Trang chủ / Bảo hiểm TNDS chủ xe cơ giới
Tai nạn giao thông đường bộ và vấn đề bồi thường thiệt hại
Ngày đăng: 02/11/2016

  Bồi thường thiệt hại trong vụ tai nạn giao thông đường bộ luôn là vấn đề nan giải đối với cả người gây tai nạn, người bị nạn và lực lượng CSGT trong công tác hòa giải. Bởi người dân Việt Nam vẫn quen tư duy “duy tình” mà đôi khi quên rằng chúng ta phải “duy lý” trong một xã hội văn minh, sống và làm việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật.

  Các vụ tai nạn giao thông xảy ra, gây thiệt hại về người, tài sản là điều không mong muốn, tuy nhiên, để “chia sẻ” những thiệt hại không đáng có, bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đã có những quy định cụ thể để người gây tai nạn, người bị nạn được quyền chia sẻ, được hưởng những đền bù về vật chất thiết thực.

  Cùng tìm hiểu quy định của pháp luật về vấn đề này qua tình huống giả định sau:

Vào khoảng 09h ngày 30/8/2016 tại đường Lê Duẩn, TP Hà Nội, anh A đang điều khiển xe mô tô trên đường đi làm hướng Lê Duẩn – Giải Phóng thì va chạm với chị B đang điều khiển xe đạp đi từ bên phải đường Lê Duẩn rẽ vào ngõ nhà bên trái đường Lê Duẩn. Anh A điều khiển xe chạy đúng tốc độ, đi đúng chiều lưu thông, chị B qua trái đường không có dấu hiệu xin qua đường. Anh A có tránh vào lề đường nhưng chẳng may bánh trước xe đạp vướng xe anh A dẫn tời hậu quả chị B bị ngã xuống đường, chị B gãy xương đùi trái. Trong trường hợp này trách nhiệm của anh A và chị B được xác định như sau:

Trường hợp 1: Nếu anh A có lỗi hoàn toàn khi tham gia giao thông và gây tai nạn

+ Trách nhiệm hành chính: anh A sẽ bị xử phạt theo lỗi mà anh A vi phạm.

+ Trách nhiệm dân sự: anh A phải bồi thường cho chị B. Chị B được hưởng 100% bảo hiểm, chi phí này do doanh nghiệp bảo hiểm chi trả khi anh A mua bảo hiểm trách nhiệm dân sự cho người thứ ba.

Nếu anh A không mua bảo hiểm trách nhiệm dân sự cho người thứ ba thì anh A và chị B sẽ thỏa thuận về mức bồi thường và anh A phải bồi thường cho chị B theo quy định của pháp luật.

Bồi thường thiệt hại theo quy định của Bộ luật dân sự 2005 bao gồm thiệt hại về vật chất và thiệt hại về tinh thần. Mức bồi thường cụ thể áp dụng theo các mức quy định tại Bộ luật dân sự năm 2005 như sau:

Điều 609. Thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm

1. Thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm bao gồm:

a) Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khoẻ và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại;

b) Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại;

c) Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại.

2. Người xâm phạm sức khoẻ của người khác phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì mức tối đa không quá ba mươi tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định.

+ Trách nhiệm hình sự: Nếu có lỗi gây ra thiệt hại cho người khác, mức thiệt hại được áp dụng làm căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự được quy định cụ thể trong quy định của Điều 3 Thông tư liên tịch số 09/2013/TTLT-BCA-BQP-BTP-VKSNDTC-TANDTC.

+ Làm chết một người;

+ Gây tổn hại cho sức khoẻ của một đến hai người với tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 31% trở lên;

+ Gây tổn hại cho sức khoẻ của nhiều người với tỷ lệ thương tật của mỗi người dưới 31%, nhưng tổng tỷ lệ thương tật của tất cả những người này từ 41% đến 100%;

+ Gây tổn hại cho sức khoẻ của một người với tỷ lệ thương tật từ 21% đến 30% và còn gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ ba mươi triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng;

+ Gây tổn hại cho sức khoẻ của nhiều người, với tỷ lệ thương tật của mỗi người dưới 21%, nhưng tổng tỷ lệ thương tật của tất cả những người này từ 30% đến 40% và còn gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ ba mươi triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng;

+ Gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng.

Nếu thuộc những trường hợp trên sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định Điều 202 Bộ luật hình sự quy định:

Điều 202. Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ 

1. Người nào điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:

a) Không có giấy phép hoặc bằng lái xe theo quy định;

b) Trong khi say rượu hoặc say do dùng các chất kích thích mạnh khác;

c) Gây tai nạn rồi bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn; 

d) Không chấp hành hiệu lệnh của người đang làm nhiệm vụ điều khiển hoặc hướng dẫn giao thông;

đ) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

3. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm.

4. Vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ mà có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả đặc biệt nghiêm trọng nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Tuy nhiên mức độ thương tật của chị B phải được giám định bởi cơ quan có thẩm quyền, nếu thương tật trên 31% thì anh A sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự.

Trường hợp 2: Anh A không có lỗi, lỗi hoàn toàn do chị B

Về trách nhiệm hành chính và trách nhiệm hình sự thì anh A không phải chịu trách nhiệm vì anh A không có lỗi.

Tuy nhiên về trách nhiệm dân sự, anh A phải có trách nhiệm bồi thường với chị B trong quá trình điều trị thương tích theo quy định tại điều 623 Bộ luật Dân sự 2005, cho dù anh A không có lỗi bởi anh A là người điều khiển xe máy là “nguồn huy hiểm cao độ”.

Bảo hiểm trách nhiệm dân sự chỉ trả 50% về thương tích cho anh A trong bồi thường với chị B theo quy định tại điểm a, khoản 3, điều 13, thông tư số 22/2016/TT-BTC ngày 16/02/2016 “Đối với vụ tai nạn được cơ quan có thẩm quyền xác định nguyên nhân do lỗi hoàn toàn của bên thứ ba thì mức bồi thường bảo hiểm về người đối với các đối tượng thuộc bên thứ ba bằng 50% mức bồi thường quy định”.

Trường hợp 3: Anh A và chị B đều có lỗi

Về trách nhiệm hành chính và trách nhiệm dân sự thì anh A phải chịu trách nhiệm tương tự trường hợp 1.

Về trách nhiệm hình sự, nếu chị B giám định thương tật trên 31% thì anh A phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 202 Bộ Luật Hình sự 1999 và hướng dẫn tại Thông tư liên tịch số 09/2013/TTLT-BCA-BQP-BTP-VKSNDTC-TANDTC ngày 28/8/2013 của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tư pháp, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định về Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ (Gây tổn hại cho sức khỏe của một đến hai người với tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 31% trở lên).

 

                                                                     Phương Anh

 

Tìm kiếm:
Từ ngày:
Đến ngày:
Viết bình luận
Họ tên (*) Email (*)
Mã bảo vệ*: