Đèn đỏ giao thông

Tra cứu phương tiện vi phạm giao thông qua hình ảnh

Biển kiểm soát

Loại phương tiện

Mã bảo mật

bên phải trên 1 Quảng cáo phải homthulienlac Quảng cáo phải Danh ba dien thoai
Trang chủ / Người tốt việc tốt
Tự hào truyền thống vẻ vang của Công an nhân dân Việt Nam anh hùng
Ngày đăng: 17/08/2016

            Ra đời từ cách mạng tháng 8 năm 1945, trải qua mỗi chặng đường cách mạng, lực lượng CAND Việt Nam lại được củng cố và phát triển thêm một bước để từ đó sẵn sàng hoàn thành mọi nhiệm vụ mà Đảng, Tổ quốc và nhân dân giao phó.

Tự hào truyền thống Công an nhân dân Việt Nam anh hùng

Ngay từ khi ra đời và trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta thường xuyên quan tâm xây dựng, củng cố các công cụ bạo lực của cách mạng để trấn áp tội phạm, bảo vệ Đảng, Nhà nước và nhân dân. Trong cao trào Xô Viết Nghệ Tĩnh (1930 - 1931), “Đội Tự vệ đỏ” được thành lập để hỗ trợ và bảo vệ quần chúng nổi dậy phá nhà giam, đốt huyện đường, vây đồn lính, bắt giữ bọn hào lý, làm tan rã từng mảng chính quyền tay sai của đế quốc ở cơ sở; bảo vệ cán bộ, bảo vệ các phiên toà của Xô Viết - Công Nông xét xử bọn phản cách mạng; giữ gìn an ninh trật tự ở những nơi có chính quyền Xô Viết. Tháng 3/1935, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ nhất thông qua Nghị quyết quan trọng về “Đội Tự vệ”. Khi cuộc vận động Mặt trận Dân chủ Đông Dương phát triển thành cao trào cách mạng rộng lớn, Đảng chỉ thị: “Mỗi ấp phải tổ chức ra Đội Tự vệ để ngăn cản những kẻ phá rối cuộc đấu tranh và đối phó với các lực lượng phản động”. Đầu năm 1940, Trung ương Đảng chủ trương thành lập “Ban Công tác đội” làm nhiệm vụ bảo vệ An toàn khu (ATK), bảo vệ cán bộ cao cấp của Đảng, giải thoát cho cán bộ khi bị địch bắt. “Ban Công tác đội” được đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Trung ương, được trang bị vũ khí và huấn luyện về kỹ thuật chiến đấu. Ngày 15/5/1945, Xứ uỷ Bắc kỳ thành lập “Đội danh dự trừ gian” do Xứ uỷ trực tiếp chỉ đạo, thực hiện nhiệm vụ diệt trừ bọn Việt gian đầu sỏ và vũ trang tuyên truyền, chiến đấu khi cần thiết. Ngày 04/6/1945, Tổng bộ Việt Minh tuyên bố thành lập khu giải phóng; đồng thời, công bố 10 chính sách lớn của Việt Minh. Ngay sau đó, các tổ chức “Đội trinh sát”, “Đội hộ lương diệt ác” lần lượt ra đời cùng với “Đội tự vệ đỏ”, “Ban Công tác đội” và “Đội danh dự trừ gian” làm nhiệm vụ thủ tiêu lực lượng của phát xít Nhật, trừ khử bọn Việt gian, trừng trị bọn lưu manh, bảo vệ chính quyền cách mạng, thực hiện 10 chính sách lớn của Việt Minh. Đây chính là các tổ chức tiền thân của Công an nhân dân Việt Nam.

Cách mạng tháng 8 năm 1945, cùng với việc tổng khởi nghĩa giành chính quyền, CAND Việt Nam đã ra đời. Ở Hà Nội sau khi chiếm lĩnh Ty Cảnh sát và các quận, đồn cảnh sát của địch, ta đã lập sở Liêm phóng Bắc bộ do đồng chí Chu Đình Xương cán bộ xứ ủy Bắc Kỳ giữ chức giám đốc sở Liêm phóng và thành lập Ty Cảnh sát do đồng chí Nguyễn Huy Khôi làm trưởng ty cảnh sát. Nhiều nơi ở Bắc bộ đã thành lập Ty Liêm phóng và Ty Cảnh sát. Tại Trung bộ, ngày 23/8/1945 Ủy ban nội vụ Trung bộ quyết định thành lập Sở trinh sát trung bộ do đ/c Nguyễn Văn Ngọc làm giám đốc. Ở Nam bộ, ngày 25/8/1945 ủy ban hành chính lâm thời đã quyết định thành lập Quốc gia tự vệ cuộc và cử hai đồng chí Dương Bạch Mai làm Giám đốc và đ/c Nguyễn Văn Trấn làm ủy trưởng Quốc gia tự vệ cuộc Nam bộ. Sự ra đời của lực lượng CAND Việt Nam sau Cách mạng tháng Tám là một tất yếu khách quan.

Vừa mới ra đời trong cách mạng tháng Tám, Công an nhân dân Việt Nam đã bước ngay vào cuộc chiến đấu gian khổ, gay go phức tạp và lập lên những chiến công vô cùng vẻ vang oanh liệt, đã đập tan mọi âm mưu thâm độc và hoạt động của bọn phản cách mạng, bọn gian tặc khác, bảo vệ Đảng và chính quyền dân chủ nhân dân còn non trẻ. Trong lúc tình hình chính trị kinh tế đang gặp khó khăn, ngày 25/11/1945, Trung ương đảng đã ra chỉ thị "kháng chiến kiến quốc". Quán triệt chỉ thị của Đảng ngành Công an đã anh dũng mưu trí kịp thời khám phá các âm mưu và hoạt động phá hoại của bọn đặc vụ Tưởng, bọn mật thám gián điệp Pháp câu kết với các loại phản động trong các đảng phái chính trị phản động, tiêu diệt các sào huyệt gây tội ác giết người của chúng, kịp thời đập tan âm mưu gây rối, gây bạo loạn hòng lật đổ chính quyền dân chủ nhân dân, bảo vệ thắng lợi chính quyền cách mạng non trẻ. Điển hình trong thời gian này lực lượng CAND đã khám phá vụ "Ôn Như Hầu" đập tan âm mưu của bọn quốc dân đảng; đại việt câu kết với thực dân Pháp hòng lật đổ chính phủ cách mạng.

Ở nam bộ, với danh nghĩa quân đồng minh vào giải giáp quân đội Nhật, ngày 6-9-1945 quân đội Anh do tướng Gơraxay chỉ huy đến Sài gòn. Lợi dụng danh nghĩa quân đồng minh, quân đội Anh trắng trợn giúp đỡ Pháp xâm lược nước ta lần thứ hai. Những ngày đầu cuộc kháng chiến ở Nam bộ, Quốc gia tự vệ cuộc đã trở thành lực lượng vũ trang chủ yếu của Đảng, nhân dân ta vừa thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Đảng, chính quyền, đoàn thể và nhân dân rút ra căn cứ chuẩn bị kháng chiến lâu dài vừa tổ chức các trận chiến đấu vũ trang kìm chân địch, xây dựng cơ sở phá tề trừ gian. Điển hình là cuộc chiến đấu của “Đội cảm tử” thuộc Quốc gia tự vệ cuộc Cần Thơ đã tiến công Sở chỉ huy hành quân của Pháp ở thị trấn Cái Răng. Trận Cái Răng diễn ra trong những ngày đầu Nam bộ kháng chiến đã khích lệ lòng yêu nước, chí căm thù giặc và quyết tâm kháng chiến của đồng bào Nam bộ.

Theo chủ trương của Trung ương Đảng, ngày 21-2-1946 Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh số 23-SL thống nhất các lực lượng liêm phóng, cảnh sát, trinh sát, quốc gia tự vệ cuộc trong toàn quốc thành "Việt Nam công an vụ". Đồng chí Lê Giản được giao nhiệm vụ Giám đốc Việt Nam Công an vụ đầu tiên. Tiếp đó ngày 18-4-1946 Bộ Nội vụ ra quyết định số 121-NĐ về tổ chức Việt Nam Công an vụ. Nghị định quy định Việt Nam Công an vụ có 3 cấp: Nha công an Trung ương, Sở công an kỳ, Ty công an tỉnh. Thực hiện Sắc lệnh số 23-SL và Nghị định 121-NĐ, lực lượng Công an đã được triển khai thống nhất trên tất cả các địa phương trong cả nước để làm nhiệm vụ bảo vệ Đảng, bảo vệ chính quyền, bảo vệ nhân dân, trấn áp kịp thời bọn phản cách mạng và bọn phạm tội khác, giữ gìn an ninh trật tự.

Trong chín năm kháng chiến gian khổ, lực lượng Công an nhân dân vừa chiến đấu vừa xây dựng lực lượng và trưởng thành trong thực tiễn. Từ năm 1947 đến năm 1953 Nha công an và sau này là Thứ Bộ công an và Bộ Công an đã tổ chức được tám cuộc Hội nghị công an toàn quốc và bốn cuộc Hội nghị chuyên đề nghiệp vụ (Hội nghị điều tra lần thứ nhất do Nha công an tổ chức từ ngày 20-6 đến 4-7-1949; Hội nghị công an trật tự lần thứ nhất do Nha công an tổ chức ngày 2-8-1950; Hội nghị trinh sát lần thứ nhất do Thứ Bộ Công an tổ chức từ ngày 25-5 đến 1-6-1953; Hội nghị trị an hành chính lần thứ nhất do Bộ Công an tổ chức từ ngày 4 đến 20-5-1954). Qua các Hội nghị này lực lượng Công an đã tổng kết được nhiều bài học kinh nghiệm về hoạt động nghiệp vụ của mình góp phần ngày càng nâng cao khả năng và kết qủa công tác chiến đấu. Về tổ chức bộ máy của lực lượng Công an cũng không ngừng được củng cố hoàn thiện cho phù hợp vơí thực tiễn chiến đấu. Trong các Hội nghị Công an toàn quốc lần thứ nhất và lần thứ 2, Nghị quyết hội nghị đều ghi rõ là tiếp tục củng cố bộ máy công an gọn nhẹ, bí mật, phù hợp với tình hình hiện tại. Đặc biệt là tại Hội nghị Công an toàn quốc lần thứ 6 và lần thứ 7 lực lượng Công an đã triển khai hệ thống tổ chức mới và tổng kết rút ra 7 kết luận quan trọng mang tính lý luận nghiệp vụ (đó là kết luận về bảo vệ cơ quan; công tác điều tra nghiên cứu; công tác bắt và xét xử, công tác hỏi cung, công tác quản chế; công tác kiểm soát sự ra vào trong vùng tạm chiếm và vấn đề công an xã).

Ngày 16-2-1953 Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 141-SL đổi Nha công an Trung ương thành Thứ Bộ Công an trực thuộc Hội đồng Chính phủ. Đồng chí Trần Quốc Hoàn ủy viên Trung ương Đảng được cử giữ chức Thứ trưởng Thứ Bộ Công an.

Trong cuộc họp Hội đồng Chính phủ từ ngày 27-29 tháng 8-1953, dưới sự chủ tọa của Hồ Chủ Tịch, đã quyết định đổi tên Thứ Bộ Công an thành Bộ Công an. Đồng chí Trần Quốc Hoàn ủy viên TW Đảng được cử giữ chức Bộ trưởng Bộ Công an.

Sau Hiệp định Giơnevơ (1954) đất nước ta tạm thời chia thành 2 miền và tiến hành 2 nhiệm vụ chiến lược: Cách mạng XHCN ở miền Bắc và Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam. Thời kỳ sau khi giải phóng, ở miền Bắc kẻ địch đã tổ chức và cài cắm lại hàng vạn tên Phỉ ở vùng Đông bắc và Tây bắc của Tổ quốc. Để giữ vững an ninh-trật tự ở miền Bắc lực lượng Công an nhân dân phối hợp với lực lượng Công an vũ trang. Lực lượng Quân đội và nhân dân đã tiến hành tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ số Phỉ mà Pháp - Mỹ để lại, đã nhanh chóng ổn định An ninh-trật tự ở các vùng biên cương phía Bắc. Mặt khác, trong thời kỳ này các lực lượng phản gián phối hợp với các lực lượng khác và được sự giúp đỡ của nhân dân chúng ta đã điều tra khám phá một số ổ nhóm gián điệp do đế quốc Mỹ và Pháp cài lại nhằm phục vụ cho âm mưu đen tối của chúng là phá hoại nền An ninh chính trị của miền Bắc hòng chia cắt lâu dài đất nước ta. Bị thất bại trong các chiến lượng xâm lược ở miền Nam, đế quốc mỹ leo thang gây chiến tranh phá hoại ở miền Bắc. Với tình hình mới và để chống hoạt động phá hoại của Mỹ ngụy, ngành Công an đã kịp thời đề ra "kế hoạch phòng chống chiến tranh" lấy bí danh là "kế hoạch 69".

Từ khi hòa bình được lập lại ở miền Bắc lực lượng Công an nhân dân đã coi trọng công tác đấu tranh chống tội phạm hình sự, chúng ta đã huy động nhiều lực lượng, phát động nhiều đợt, nhiều chiến dịch quét vét đấu tranh xử lý bọn lưu manh, côn đồ chuyên nghiệp, khám phá và trừng trị bọn trộm cướp, bọn xâm phạm tài sản XHCN và tài sản của công dân... đảm bảo sự yên ổn về trật tự an toàn xã hội của hậu phương lớn, đồng thời tích cực giải quyết đẩy lùi một số tệ nạn xã hội như: gái điếm, cờ bạc, nghiện hút... các phong trào bảo vệ trị an mà sau này là phong trào "bảo vệ an ninh Tổ quốc" được phát triển sâu rộng trong nhân dân, trong các cơ quan, xí nghiệp được dấy lên phong trào đấu tranh chống tham ô lãng phí, bảo vệ tài sản XHCN. Qua đó quần chúng đã được nâng cao tinh thần cảnh giác và đã phát hiện cho cơ quan Công an nhiều hành động phạm pháp của bọn tội phạm hình sự.

Ngày 28-7-1956 Thủ tướng Chính phủ ra Nghị định số 982/TTg xác định mô hình tổ chức, chức năng nhiệm vụ của Bộ Công an. Lực lượng Công an nhân dân càng chiến đấu càng trưởng thành. Ngày 20-7-1962 Hồ Chủ Tịch ký lệnh 34-LCT công bố pháp lệnh quy định nhiệm vụ, quyền hạn và pháp lệnh quy định chế độ cấp bậc của sĩ quan và hạ sĩ quan Cảnh sát nhân dân. Để tăng cường kiện toàn bộ máy lực lượng Công an, đồng thời để đáp ứng tình hình và nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới.

Dưới ánh sáng của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 3 (1960) cách mạng miền Nam ngày càng phát triển và giành được những thắng lợi cơ bản. Các tổ chức an ninh như "ban bảo mật", "An ninh cơ sở", "An ninh nhân dân", không ngừng phát triển, vùng giải phóng dần dần được mở rộng; tháng 2-1962 trước sự lớn mạnh vượt bậc của phong trào cách mạng, Hội nghị thành lập lực lượng An ninh nhân dân miền Nam đã được triệu tập. Hội nghị đã lấy tên "ban bảo vệ An ninh" để thống nhất tổ chức công an miền Nam và xác định nhiệm vụ là: tham mưu giúp cấp ủy, phát động và hướng dẫn quần chúng, điều tra nắm tình hình địch, phục vụ việc bảo vệ Đảng, bảo vệ cách mạng, bảo vệ các cuộc đấu tranh của nhân dân. Tại các thành phố thị xã và vùng nông thôn do địch kiểm soát, lực lượng An ninh vừa hoạt động bí mật vừa hoạt động vũ trang kết hợp với các cuộc đấu tranh của quần chúng do Đảng lãnh đạo.

Bên cạnh đó lực lượng An ninh nhân dân ở miền Nam vừa chiến đấu chống địch tiến hành bảo vệ Đảng, bảo vệ cơ sở cách mạng vừa xây dựng, phát triển lực lượng. Các tổ chức như điệp báo, an ninh bí mật, cơ sở bí mật, trinh sát vũ trang, biệt động nội thành... được thành lập và không ngừng phát triển ngay trong lòng địch. Các tổ chức này đã gây cho địch nhiều thất bại to lớn, bọn ác ôn hoang mang dao động, nhiều tên hoảng sợ không dám ngủ lại ở đồn bốt, không dám hống hách với nhân dân.

Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, đã đưa cách mạng nước ta chuyển sang giai đoạn mới: Cả nước độc lập, thống nhất cùng tiến hành công cuộc xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Phát huy truyền thống tốt đẹp của toàn lực lượng, Công an nhân dân đã nhanh chóng kiện toàn tổ chức, phát triển lực lượng và triển khai các mặt công tác nhằm ổn định An ninh - trật tự trong phạm vi cả nước, phục vụ nhiệm vụ chiến lược của Đảng.

Tại kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa 6 ngày 6-6-1975 của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa quyết định đổi tên Bộ Công an thành Bộ Nội vụ và Nghị quyết này có hiệu lực kể từ ngày 1-8-1975.

Trong những năm mới giải phóng lực lượng Công an đã kịp thời điều tra khám phá, kịp thời đập tan hàng chục nhóm tổ chức phản động. ở Tây Nguyên bọn phản động Fulro đẩy mạnh hoạt động gây cho ta khó khăn, thiệt hại. Lực lượng Công an nhân dân đã để xuất với cấp ủy Đảng về những chủ trương đối sách đấu tranh với chúng, đồng thời ra sức tuyên truyền, giác ngộ quần chúng, kết hợp việc phát huy sức mạnh của nhân dân với đẩy mạnh các mặt về công tác nghiệp vụ để đấu tranh truy quét phân hóa làm tan rã tổ chức, lực lượng của bọn Fulro.

Ngay sau khi chiếm lĩnh, đập tan các công cụ đàn áp của Mỹ ngụy, lực lượng Công an đã tham gia ban quân quản tiến hành đăng ký cho hàng vạn đối tượng thuộc ngụy quân, ngụy quyền, cảnh sát tình báo, và phản động các loại ra trình diện và tiến hành cải tạo giáo dục họ.

Ngày 2 tháng 12 năm 1980 Bộ chính trị đã ra Nghị quyết 31 NQ-TƯ Về nhiệm vụ bảo vệ an ninh chính trị, giữ gìn trật tự an toàn xã hội trong tình hình mới. Bộ nội vụ (nay là Bộ Công an) đã chỉ đạo các địa phương mở liên tục 23 đợt tiến công kết hợp với phát động quần chúng truy quét tội phạm hình sự , tập trung truy quét bon lưu manh chuyên nghiệp, côn đồ hung hãn, bọn cầm đầu băng ổ nhóm, bọn trộm cắp tài sản Nhà nước và nhân dân. ở những địa bàn trọng điểm như thành phố thị xã, khu công nghiệp tập trung, các tuyến giao thông, khu vực biên giới, cảng biển.

Từ những năm cuối thập kỷ 80, tình hình thế giới có nhiều biến động sâu sắc, phức tạp và đến những năm đầu thập kỷ 90 hệ thống XHCN không còn nữa. Trong lúc tình hình kinh tế xã hội diễn biến phức tạp, có mặt nghiêm trọng, có nhiều biến động xấu, có lúc gay gắt, trong tình hình đó bọn đế quốc và các thế lực thù địch trong và ngoài nước ráo riết tiến hành chiến lược "Diễn biến hòa bình" coi Việt Nam là một trọng điểm tập trung lực lượng, tập trung hoạt động trên mọi lĩnh vực kinh tế - chính trị - văn hóa, xã hội nhằm xâm nhập nội bộ ta, gây rối, gây bạo loạn, xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng ta, lật đổ chế độ XHCN ở Việt Nam. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự chỉ đạo của Nhà nước, CAND đã chủ động phát hiện và đấu tranh ngăn chặn âm mưu hoạt động diễn biến hòa bình gây rối, gây bạo loạn của các thế lực thù địch.

Cùng với việc tiếp tục đổi mới về tổ chức ngành ta đã bố trí sắp xếp lại lực lượng, xây dựng thế trận an ninh nhân dân, xác định đối tượng chính, các địa bàn trọng điểm, đổi mới công tác tình báo trên các mặt hoạt động qua đó thu được nhiều tài liệu có ý nghĩa quan trọng, kịp thời báo cáo đề xuất Bộ Chính trị, Ban bí thư những thông tin quan trọng, phục vụ cho công tác bảo vệ nội bộ và hoạt động đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta.

Từ năm 1992, tình hình trong nước, khu vực và trên thế giới ngày càng phức tạp. Ngày 29 tháng 6 năm 1992, Hội nghị lần thứ 3 Ban chấp hành TW (khóa 7) đã họp phân tích tình hình và ra nghị quyết về nhiệm vụ quốc phòng và bảo vệ an ninh quốc gia trong giai đoạn mới. Nghị quyết đã xác định những đối tượng cần tập trung đấu tranh và xác định nhiệm vụ cụ thể của quốc phòng và an ninh.

Trên cơ sở Chỉ thị của Bộ Chính trị, Quyết định của Thủ tướng Chính phủ và Chỉ thị của Bộ Nội vụ về đấu tranh chống tham nhũng, buôn lậu, Bộ Nội vụ đã tập trung chỉ đạo các cục nghiệp vụ phối hợp với các ngành tăng cường đấu tranh chống tội phạm kinh tế, đặc biệt là chống tham nhũng, buôn lậu.Được sự chỉ đạo thường xuyên, trực tiếp của lãnh đạo bộ, sự giúp đỡ của các ngành, các cấp và nhân dân, các cục nghiệp vụ đã phối hợp với công an các địa phương tấn công mạnh mẽ, liên tục phát hiện, điều tra, đề nghị truy tố hàng trăm vụ với hàng nghìn đối tượng, thu hồi cho Nhà nước hàng trăm tỷ đồng.

Quán triệt Chỉ thị của Bộ Chính trị, của Thủ tướng Chính phủ và Bộ Nội vụ về công tác đấu tranh chống tội phạm trong tình hình mới; được sự lãnh đạo sát sao của cấp ủy Đảng, sự giúp đỡ của quần chúng nhân dân, Công an nhân dân đã phát động quần chúng thực hiện Chỉ thị 135/CT của Chính phủ, liên tục mở các đợt tấn công, truy quét tội phạm. Qua các chiến dịch, chúng ta đã bắt hàng ngàn đối tượng có lệnh truy nã đang lẩn trốn, bắt và xử lý hàng nghìn đối tượng trộm, cướp. Triệt phá hàng chục băng cướp có vũ trang. Qua hiệu qủa thực tế của việc tiếp tục thực hiện Chỉ thị 135/CT/CP về tấn công, truy quét tội phạm đã làm giảm hẳn hoạt động của bọn tội phạm, nhiều đối tượng đã ra tự thú.

Trong sự nghiệp đổi mới, lực lượng CAND đã tham mưu giúp Đảng, Nhà nước và cấp ủy, chính quyền các cấp triển khai, thực hiện tốt các Nghị quyết của Đảng về công tác Công an trong tình hình mới. Tổ chức thực hiện có hiệu quả “Chiến lược bảo vệ an ninh quốc gia”, “Chương trình quốc gia phòng chống tội phạm”, “Chương trình quốc gia phòng, chống tội phạm ma túy”. Xây dựng thế trận an ninh nhân dân và thế trận quốc phòng toàn dân vững mạnh. Tham mưu đề xuất và trực tiếp giải quyết nhiều vụ, việc phức tạp liên quan đến vấn đề tôn giáo, dân tộc, an ninh kinh tế, an ninh nông thôn, an ninh văn hóa - tư tưởng. Phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng nghiệp vụ, bảo vệ an toàn tuyệt đối các sự kiện chính trị, văn hoá, xã hội trọng đại của đất nước. Chủ động phòng ngừa và liên tục mở nhiều đợt tấn công, truy quét tội phạm, đặc biệt là tội phạm có tổ chức.

Năm 1996, lực lượng Công an triệt phá băng, nhóm tội phạm hoạt động theo kiểu “xã hội đen”, do Dương Văn Khánh cầm đầu, truy tố 48 bị can. Hai năm 2001 - 2002, lực lượng Công an triệt phá tổ chức tội phạm đặc biệt nguy hiểm hoạt động theo kiểu “xã hội đen”, do Trương Văn Cam cầm đầu, bắt giữ, xử lý hàng trăm tên tội phạm nguy hiểm. Điều tra, khám phá nhiều vụ án về ma túy lớn, điển hình như đường dây buôn lậu ma túy do Xiêng Phênh - Vũ Xuân Trường cầm đầu; đường dây buôn lậu ma túy do Nguyễn Văn Hải cầm đầu. Ngăn chặn và đẩy lùi tệ nạn xã hội, từng bước thiết lập lại trật tự an toàn giao thông; làm tốt công tác phòng cháy, chữa cháy; đẩy mạnh công tác đấu tranh chống tham nhũng, buôn lậu, gian lận thương mại, lừa đảo, chiếm đoạt tài sản, khám phá nhiều vụ án kinh tế lớn, điển hình như: vụ tham nhũng tại Trạm kiểm soát Đông Bành, Lạng Sơn; vụ tham ô tài sản tại Công ty TAMEXCO; vụ Epco - Minh Phụng; vụ lừa đảo, cố ý làm trái đặc biệt nghiêm trọng, do Lã Thị Kim Oanh cầm đầu... góp phần tạo môi trường chính trị, xã hội ổn định, phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội và quá trình hội nhập quốc tế.

 

Sau 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, lực lượng CAND đã có bước phát triển mạnh mẽ, không ngừng lớn mạnh về mọi mặt và đạt được những thành tựu quan trọng. Lực lượng CAND đã chủ động phối hợp tham mưu với Đảng, Nhà nước gắn kết chặt chẽ hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; kết hợp an ninh, quốc phòng với kinh tế, đối ngoại; phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn dân; chủ động tích cực mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế (đến nay Bộ Công an đã có quan hệ với 105 bộ, cơ quan ngang bộ của 55 quốc gia và vùng lãnh thổ; thiết lập quan hệ nhiều mặt với cơ quan thực thi pháp luật của các nước Thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp quốc; tham gia hoạt động trong 22 tổ chức, diễn đàn hợp tác quốc tế đa phương; thúc đẩy quan hệ hợp tác toàn diện với cơ quan an ninh, tình báo, cảnh sát các nước và các tổ chức quốc tế).

Lực lượng CAND đã chủ động đổi mới và tổ chức thực hiện nhiều chủ trương, đối sách thích hợp để bảo vệ an ninh quốc gia; vận dụng linh hoạt các biện pháp nghiệp vụ; giữ vững ổn định chính trị, không để bị động, bất ngờ; không để hình thành tổ chức chính trị đối lập trong nội địa; không để xảy ra khủng bố, phá hoại; xử lý có hiệu quả các tình huống phức tạp về an ninh, trật tự, không để lan rộng, kéo dài; tránh sơ hở để các thế lực thù địch, phản động lợi dụng tuyên truyền, kích động chống phá gây phương hại đến an ninh quốc gia. Chú trọng vận dụng sáng tạo các quan điểm, tư tưởng chỉ đạo của Đảng, đổi mới phương thức đấu tranh phòng, chống tội phạm, tập trung đấu tranh có hiệu quả với các loại tội phạm mới, tội phạm tham nhũng, buôn lậu và gian lận thương mại; tội phạm ma tuý, tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia, tội phạm môi trường, tội phạm sử dụng công nghệ cao và tệ nạn xã hội; kiềm chê gia tăng tội phạm, giữ vững trật tự, an toàn xã hội, duy trì các hoạt động bình thường của xã hội và bảo đảm cuộc sống bình yên, hạnh phúc của nhân dân.

Nhìn lại chặng đường 71 năm chiến đấu xây dựng và trưởng thành, Công an nhân dân đã không ngừng nâng cao truyền thống vẻ vang của một lực lượng Công an cách mạng, làm sáng ngời lịch sử Công an nhân dân Việt Nam, góp phần tô thắm truyền thống của lực lượng vũ trang của Đảng. Vừa chiến đấu, vừa xây dựng lực lượng, Công an nhân dân Việt Nam đó hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ mà Đảng và nhân dân giao phó, góp phần xứng đáng cùng toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta đánh thắng thực dân Pháp, đế quốc Mỹ xâm lược, bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lónh thổ Tổ quốc, bảo vệ vững chắc chế độ Xã hội chủ nghĩa./.

H.L