Đèn đỏ giao thông

Tra cứu phương tiện vi phạm giao thông qua hình ảnh

Biển kiểm soát

Loại phương tiện

Mã bảo mật

Tra cứu xe mất đăng ký, biển số, hết niên hạn, mất cắp

Biển kiểm soát

Loại phương tiện

Mã bảo mật

Quảng cáo phải Quảng cáo phải Danh ba dien thoai Chung tay vì an toàn giao thông
Trang chủ / Nghiên cứu - Trao đổi
75 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của lực lượng Quản lý trang bị và kho vận
Ngày đăng: 14/07/2021
Trải qua 75 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, lực lượng Quản lý trang bị và kho vận CAND luôn khắc phục mọi khó khăn, gian khổ, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong mọi giai đoạn cách mạng. Hướng tới kỷ niệm 75 năm Ngày truyền thống của lực lượng (11/07/1946- 11/07/2021), mỗi cán bộ chiến sĩ Quản lý trang bị và kho vận đều vinh dự và tự hào khi được viết tiếp những trang sử hào hùng của lớp lớp thế hệ đi trước.

LỜI NÓI ĐẦU

          Trưởng thành và lớn mạnh cùng với lịch sử hào hùng của dân tộc, những trang sử vẻ vang của lực lượng CAND, có thể nói rằng, suốt 75 năm qua, một lực lượng luôn kề vai sát cánh trong mọi lĩnh vực công tác để vượt qua muôn vàn khó khăn vất vả, vượt qua những thách thức cam go nhất, góp phần không nhỏ vào sự nghiệp đấu tranh thống nhất đất nước, xây dựng Tổ quốc qua các thời kỳ lịch sử, chính là lực lượng hậu cần – kỹ thuật CAND, trong đó có lực - lượng Quản lý trang bị và kho vận CAND.

          Lực lượng Quản lý trang bị và kho vận Công an nhân dân (CAND) được cấu thành bởi các lực lượng Quản lý trang bị kỹ thuật và trang cấp CAND và lực lượng Kho và vận tải CAND. Trải qua 75 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, lực lượng Quản lý trang bị và kho vận CAND đã nỗ lực phấn đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao trong các cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Đơn vị làm công tác quản lý trang bị và kho vận CAND các cấp đã chủ động làm tốt chức năng tham mưu với lãnh đạo, chỉ huy trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, đồng thời thực hiện tốt chức năng quản lý về công tác trang bị và kho vận CAND. Nhân dịp 75 năm Ngày truyền thống lực lượng Quản lý trang bị và kho vận CAND, Cục Trang bị và kho vận (H03) phối hợp với các đơn vị chức năng biên soạn Đề cương tuyên truyền kỷ niệm 75 năm Ngày truyền thống lực g's lượng Quản lý trang bị và kho vận CAND (11/7/1946-11/7/2021) nhằm tái 3 hiện những chặng đường lịch sử, ôn lại truyền thống vẻ vang, tôn vinh những có thành tích, chiến công của lực lượng Quản lý trang bị và kho vận CAND trong quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành. Qua đó, tuyên truyền rộng rãi trong toàn lực lượng CAND nói chung, lực lượng Quản lý trang bị và kho vận CAND nói riêng về lịch sử, truyền thống vẻ vang, để mỗi cán bộ, chiến sĩ làm ( công tác quản lý trang bị và kho vận CAND luôn tự hảo, phát huy truyền thống, trí tuệ, bản lĩnh, lòng yêu nghề, đoàn kết, nỗ lực phấn đấu hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, góp phần tích cực bảo vệ vững chắc an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội của đất nước trong tình hình mới.

Phần thứ nhất

          SỰ HÌNH THÀNH VÀ THỐNG NHẤT LỰC LƯỢNG QUẢN LÝ TRANG BỊ VÀ KHO VẬN CÔNG AN NHÂN DÂN

1. Sự hình thành lực lượng Quản lý trang bị và kho vận Công an nhân dân đầu tiên

          Theo các tài liệu lịch sử Công an, cùng với sự ra đời của các tổ chức Công an đầu tiên, công tác trang bị và kho vận CAND từng bước được hình thành. Trong các cơ quan công an, có các đơn vị làm công tác quản lý vật tư, thiết bị, phương tiện, vũ khí, khí tài, trang phục, trang cấp, có kho cất trữ vũ khí, lương thực, văn phòng phẩm và tài sản kịp thời phục vụ công tác, chiến đấu của lực lượng CAND. Sự hình thành lực lượng Quản lý trang bị và kho vận CAND được đánh dấu trong các mốc lịch sử quan trọng, gắn liền với quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của lực lượng CAND.

          Cách mạng tháng Tám thành công, lực lượng CAND ra đời, các mặt công tác chuyên môn nghiệp vụ từng bước được hình thành và phát triển để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ công tác, chiến đấu, xây dựng lực lượng CAND. Công tác quản lý trang bị và kho vận CAND được hình thành ngay trong những ngày sôi nổi của cuộc Tổng khởi nghĩa.

          1.1. Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, mặc dù đã giành được chính quyền về tay nhân dân, nhưng tình thế đất nước ta lúc này vô cùng khó khăn “ngàn cân treo sợi tóc”, thù trong giặc ngoài. Hậu quả của trận lũ lụt và nạn đói năm 1945 chưa được giải quyết, trong lúc đó, quân Pháp nổ súng chiếm Sài Gòn, mở rộng chiến tranh ra toàn Nam Bộ. Hai mươi vạn quân Tưởng Giới Thạch tràn vào với danh nghĩa đồng minh, giải giáp vũ khí quân Nhật bại trận nhưng thực chất là thực hiện âm mưu thâm độc của Mỹ là tiêu diệt Đảng ta, phá Việt Minh, câu kết với các thế lực phản động trong nước lật đổ chính quyền nhân dân non trẻ, lập chính phủ bù nhìn làm tay sai cho chúng.

          Trước sự xâm lược của quân Pháp và sự trở mặt của quân Tưởng, ngày 25/11/1945, Trung ương Đảng ra Chỉ thị “Kháng chiến kiến quốc” với nhiệm vụ chính là củng cố chính quyền, bài trừ nội phản, đập tan âm mưu của quân Tưởng. Thực hiện Chỉ thị của Trung ương Đảng, ngày 11 tháng 7 năm 1946, đồng chí Lê Giản, Giám đốc Nha Công an Trung ương triệu tập cuộc họp khẩn cấp gồm các đồng chí Bùi Đức Minh, Lê Hữu Qua và Phạm Văn Tạo để bàn phương án đột nhập vào số nhà 132 Duy-vi-nhô (nay là Phố Bùi Thị Xuân) là một trong những cơ quan đầu não của lực lượng phản cách mạng Quốc dân Đảng để điều tra, thu thập thông tin quân Pháp câu kết với quân Tưởng và bọn phản động trong nước tạo cớ để tuyên bố đảo chính lật đổ chính quyền nhân dân.

vào ngày quân Pháp tổ chức diễu binh chúc mừng quốc khánh Pháp (14/7/1946). Để thực hiện kế hoạch này, các đồng chí lãnh đạo thuộc Nha Công an Bắc Bộ phải điều động lực lượng trinh sát và Công an xung phong, sử dụng các phương tiện, vũ khí cần thiết đảm bảo yêu cầu nhanh chóng, bí mật, bất ngờ. Ngay trong đêm các đồng chí Bùi Đức Minh và Lê Hữu Qua đã chọn lựa được 2 xe ô tô (loại xe tải nhỏ) để chở lực lượng đột kích, đồng thời huy động đội trinh sát của Nha và một tiểu đội Công an xung phong trang bị súng dài sẵn sàng chờ lệnh. Do chuẩn bị chu đáo nên toàn lực lượng đột kích đã bí mật bất ngờ tiếp cận mục tiêu bằng xe ô tô, khám xét, bắt gọn các đối tượng ở số nhà 132 Duy vi-nhô hoàn toàn bí mật.

          Để tiếp tục thực hiện chuyên án, Sở Công an Bắc Bộ tiếp tục huy động xe ô tô, xe đạp, ngựa để lực lượng trinh sát, Công an xung phong, tuần cảnh có đủ phương tiện đồng loạt trấn áp gần 40 trụ sở của Quốc dân Đảng ở địa bàn Hà Nội và địa phương lân cận. Thắng lợi quan trọng trong cuộc trấn áp Quốc dân Đảng là một mốc son lịch sử vẻ vang, là đỉnh cao chiến công đầu tiên của lực lượng Công an nhân dân sau 01 năm thành lập, bảo vệ thành công chính quyền non trẻ. Những chiến công đó có sự đóng góp không nhỏ của lực lượng hậu cần – kỹ thuật nói chung và lực lượng Quản lý trang bị kỹ thuật và trang cấp nói - riêng. Ngày 11/7/1946, ngày mở đầu cho chiến dịch đánh án đập tan tổ chức phản cách mạng thành công, trong đó công tác đảm bảo trang bị phương tiện cần thiết cho lực lượng chiến đấu đã chứng tỏ vai trò quan trọng, góp phần làm nên những chiến công của lực lượng Công an nhân dân. Trong ngày này, đồng chí lãnh đạo cao nhất của lực lượng Công an nhân dân trực tiếp giao nhiệm vụ và triển khai thực hiện kế hoạch đảm bảo trang bị cho lực lượng chiến đấu. Để ghi nhận tầm quan trọng của công tác trang bị kỹ thuật và trang cấp, phục vụ công tác Công an ngay từ ngày đầu thành lập, Bộ Công an đã quyết định công nhận ngày 11/7/1946 là Ngày truyền thống của lực lượng Quản lý trang bị kỹ thuật và trang cấp Công an nhân dân.

          1.2. Ngày 13-5-1953, đồng chí Trần Quốc Hoàn, Thứ trưởng Thứ Bộ Công an đã ký Nghị định số 74/NĐ quy định cụ thể về tổ chức của Thứ Bộ Công an và tổ chức của Công an các địa phương. Theo đó, tổ chức Văn phòng Thứ Bộ Công an gồm 4 đơn vị, trong đó có Phòng Quản trị, gồm các bộ phận kế toán, tài chính, tiếp liệu, kho, kiến thiết (xây dựng), nhà in với biên chế ban đầu 34 đồng chí, trong biên chế này có bố trí nhân sự làm công tác kho hậu cần. Tại bộ phận quản trị thuộc Văn phòng Thứ Bộ Công an đóng tại An Toàn khu có một nhà kho đơn giản bằng tranh tre, sử dụng để cất trữ lương thực, thực phẩm, dụng cụ văn phòng, đồ dùng sinh hoạt và vật liệu xây dựng. Từ thời điểm này, tổ chức và nhân sự của lực lượng Kho và vận tải CAND được hình thành và phát triển đến ngày nay. Để ghi nhận tầm quan trọng của công tác kho và vận tải trong suốt quá trình phục vụ công tác Công an, Bộ Công an đã quyết định công nhận ngày 13/5/1953 là Ngày truyền thống của lực lượng Kho và vận tải CAND.

          2. Thống nhất lực lượng Quản lý trang bị và kho vận Công an nhân dân:

          Ngày 06/8/2018, Bộ trưởng Bộ Công an ban hành Quyết định số 4015/QĐ-BCA quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Cục Trang bị và kho vận (H03). H03 là đơn vị trực thuộc Bộ trên cơ sở sáp nhập 05 đơn vị thuộc Tổng cục Hậu cần - Kỹ thuật trước đây, gồm: Cục Quản lý Trang bị kỹ thuật và trang cấp, Cục Kho vận, Phòng Tài chính và Quản lý sắm công sản, Phòng Kế hoạch và đầu tư, Trung tâm đấu thầu mua tập trung Bộ Công an, có chức năng tham mưu giúp Bộ trưởng về công tác quản lý về trang bị kỹ thuật, trang cấp và kho vận trong CAND; trực tiếp tổ chức đảm bảo kỹ thuật, quân trang, nuôi quân, công tác dự trữ quốc gia, dự phòng chiến đấu, công tác kho và vận tải theo quy định của Nhà nước và Bộ Công an đáp ứng yêu cầu chiến đấu, công tác và xây dựng lực lượng CAND. Ngày 01/11/2020, Bộ Công an đã ban hành Thông tư số 115/2020/TT-BCA quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Cục Trang bị và kho vận (H03) (thay thế Quyết định số 4015/QĐ-BCA ngày 06/8/2018 của Bộ trưởng Bộ Công an). Tổ chức bộ máy của Cục H03 được quy định tại Quyết định số 9198/QĐ-BCA, ngày 02/11/2020 của Bộ trưởng Bộ Công an, theo đó: Cục H03 do Cục trưởng phụ trách, có không quá 05 Phó Cục trưởng. Tổ chức bộ máy gồm 11 Phòng.

          Như vậy, cùng với sự thay đổi mô hình tổ chức bộ máy của Bộ Công an qua các giai đoạn lịch sử, lực lượng Quản lý trang bị và kỹ thuật và trang cấp và lực lượng Kho và vận tải đã được hình thành và thống nhất thành lực lượng Quản lý trang bị và kho vận, với vai trò lịch sử mới, quy mô ngày càng lớn mạnh, đáp ứng yêu cầu công tác, chiến đấu và xây dựng lực lượng CAND trong tình hình mới.

          Để ghi nhận quá trình hình thành, phát triển, ngày 01/4/2021, Bộ trưởng Bộ Công an đã ký Quyết định số 2165/QĐ-BCA công nhận ngày 11/7/1946 là Ngày truyền thống của lực lượng Quản lý trang bị và kho vận CAND.

          Phần thứ hai

          NHỮNG CHẶNG ĐƯỜNG LỊCH SỬ VẺ VANG CỦA LỰC LƯỢNG QUẢN LÝ TRANG BỊ VÀ KHO VẬN CAND QUA 75 NĂM - XÂY DỰNG, CHIẾN ĐẤU VÀ TRƯỞNG THÀNH

          1. Lực lượng Quản lý trang bị và kho vận CAND trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1946-1954)

          Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, do chiến trường bị chia cắt, chưa có sự chỉ huy thống nhất, nên hoạt động quản lý trang bị và kho vận còn phân tán nhỏ lẻ, chủ yếu đáp ứng yêu cầu phục vụ trực tiếp cho cuộc đấu tranh bảo vệ chính quyền cách mạng ở các địa phương cũng như từng trận chiến đấu, từng hoạt động nghiệp vụ riêng biệt. Cách mạng mới thành công, lực lượng Công an non trẻ từ Trung ương đến địa phương hầu như không có phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ, vật chất dự trữ nên công tác kho thường tạm thời, không ổn định; công tác vận tải không tổ chức tập trung mà phân tán nhỏ lẻ, gắn liền với các đơn vị trực tiếp chiến đấu, hoặc phải phối hợp, san sẻ phương tiện dùng chung với các lực lượng, các ngành khác.

          Hoạt động của công tác hậu cần CAND trong cuộc kháng chiến chống Pháp đã xuất hiện những nhiệm vụ đầu tiên về nghiệp vụ công tác quản lý trang bị kỹ thuật nghiệp vụ, công tác kho và hoạt động vận tải phục vụ trực tiếp cho chiến đấu và công tác. Bên cạnh việc bảo đảm nơi ăn, ở, làm việc, lực lượng hậu cần đã đảm nhận nhiệm vụ quản lý vũ khí, phương tiện vận chuyển, vận tải, đi lại để trang cấp cho cán bộ, chiến sĩ CAND thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh, trật tự, do đó, công tác trang cấp, trang bị cũng được hình thành. Lực lượng Quản lý trang bị và kho vận CAND đã thực hiện phương châm tạo nguồn tại chỗ, tự lực, tự cường, phấn đấu vượt qua gian khổ, như thu sửa gom, chữa lại các loại xe đạp, xe máy cũ, nghiên cứu vận hành một số xe Peugeot và Citroen để phục vụ có hiệu quả công tác chiến đấu của lực lượng Công an. Bên cạnh đó, một số nhà kho tạm đầu tiên được hình thành ở các cơ quan Công an Trung ương và địa phương để bảo quản, cất trữ hàng hóa, vật tư, vũ khí, phương tiện, lương thực, thực phẩm. Công tác kho ở một số địa phương đã có bước phát triển theo hướng bảo quản lâu dài nguồn dự trữ, cấp phát để sử dụng thường xuyên và trong các trường hợp cấp bách. Thời kỳ đầu, tuy tổ chức và hoạt động còn nhỏ lẻ, thô sơ nhưng các tổ chức cung ứng vật tư trang thiết bị, vũ khí và quân trang và các tổ chức cơ sở kho và vận tải của Công an các đơn vị, địa phương đã góp phần quan trọng đảm bảo phục vụ chiến đấu của lực lượng CAND trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và lực lượng quản lý trang bị kỹ thuật, kho, vận tải được hình thành và phát triển đến ngày nay.

          2. Lực lượng Quản lý trang bị và kho vận CAND trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa, giải phóng miền Nam thống nhất đất nước (1954-1975)

          Sau khi Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954, hòa bình lập lại ở miền Bắc, cách mạng nước ta bước vào thời kỳ mới với hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam. Bối cảnh lịch sử đó đặt ra nhiệm vụ công tác công an hết sức nặng nề, đòi hỏi bộ máy, tổ chức, biên chế, đảm bảo phương tiện, vũ khí, vật tư, thiết bị, quân trang, quân nhu, kho và vận tải phải được đổi mới, củng cố, kiện toàn. Ngày 17/9/1954, Thủ tướng Chính phủ ban hành Thông tư số 393/TTg quy định những nguyên tắc tiếp thu, quản lý và sử dụng tài sản của chính quyền Pháp và chính quyền Bảo Đại để lại. Thi hành Thông tư của Thủ tướng, để làm tốt công tác tiếp thu, tiếp quản, Bộ Công an đã tổ chức cho cán bộ, nhân viên nghiên cứu, học tập, thảo luận quán triệt các nguyên tắc tiếp thu, quản lý, sử dụng tài sản của chính quyền cũ và học tập 8 chính sách, 10 điều kỷ luật đối với quân đội, công an và cán bộ, nhân viên khi vào vùng giải phóng, và 16 điều quy định về quản lý vũ khí trong cả nước. Cũng trong thời gian này, ngày 10/8/1956, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Thông tư số 1001/TTg quy định tổ chức, nhiệm vụ và chế độ cấp phát trang bị cho cảnh sát nhân dân. Lãnh đạo Bộ Công an đã chỉ đạo lực lượng hậu cần, trong đó có các chiến sĩ làm công tác trang bị và kho vận phối hợp với các đơn vị chức năng của Bộ Quốc phòng tổ chức thực hiện đúng và đủ Thông tư của Chính phủ nhằm chăm lo, xây dựng lực lượng Cảnh sát nhân dân theo quy định của Nhà nước.

          Tháng 1-1957, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 57/SL quy định tổ chức Văn phòng các Bộ và các cơ quan trực thuộc Bộ. Thực hiện Sắc lệnh 57/SL, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Nghị định số 209/TTg, ngày 17-5 1957 và Thông tư số 274/TTg, ngày 24-6-1957 quy định nhiệm vụ, tổ chức, chế độ công tác của Văn phòng các Bộ. Bộ Công an đã kiện toàn tổ chức của Văn phòng Bộ, quyết định lập Phòng Tài vụ - Quản trị phụ trách các mặt công tác là hậu cần của cơ quan Bộ, trong đó có công tác trang cấp và công tác kho, vận tải. Trong cơ cấu tổ chức của Phòng Tài vụ - Quản trị có Tổ Tài vụ - Kế toán - Kho. Nhà kho ban đầu chỉ là nhà cấp 4, hàng hoá trong kho chủ yếu là quần áo cho cán bộ mượn để đi học và công tác ở nước ngoài; trang phục của cảnh sát; quần áo phạm nhân và các tang vật thu được của địch qua các vụ án gián điệp, biệt kích như vũ khí, điện đài, tiền, vàng và các vật dụng khác, đây chính là nhà kho đầu tiên của Bộ Công an tại Hà Nội.

          Ngày 10/5/1958, Bộ Công an đã có Công văn số 521-V8/1 quy định Phòng Tài vụ quản trị là đơn vị trực thuộc Bộ có nhiệm vụ sắp xếp, cung cấp, quản lý, sửa chữa tài sản, dụng cụ, vật liệu cần thiết cho công tác của Bộ, kể cả cảnh trang của Cảnh sát nhân dân, lập kế hoạch vật tư, kiến thiết cơ bản dài hạn và hàng năm. Tiếp đó, vào giữa năm 1959, Bộ Công an đã quyết định thành lập Phòng Tài vụ - Kế hoạch trực thuộc Bộ với nhiệm vụ chủ yếu quản lý dự toán kinh phí, lập kế hoạch vật tư, thiết bị và phân phối sử dụng, lập kế hoạch tiếp nhận, bảo quản, phân phối vũ khí cho toàn ngành, kể cả vũ khí thể thao, phụ trách việc may sắm trang phục cho lực lượng cảnh sát, tổ chức việc may và phân phối quần áo, chăn, màn cho phạm nhân ở các Trại cải tạo Trung ương.

          Ngày 31-10-1963, Bộ ban hành Quyết định số 900/CA-QĐ về việc thành lập Đội xe trực thuộc Văn phòng Bộ Công an, với biên chế hơn 20 cán bộ, chiến sĩ. Đây là đơn vị đầu tiên của ngành Vận tải CAND. Ngày 20/12/1963, Bộ Công an ban hành Thông tư số 2030/TT quy định tạm thời chế độ trang bị phương tiện cần thiết cho một số loại cán bộ làm công tác nghiệp vụ. Chế độ cấp phát là chế độ cấp mới lần đầu, cấp đổi lần sau. Thực hiện Thông tư của Bộ, cán bộ chiến sĩ làm công tác trang bị và kho vận đã cùng với Phòng Tài vụ - Kế hoạch tổ chức gia công may mới, mua sắm, tổ chức cấp phát lần đầu và có dự trữ trong kho để cấp đổi cho các lực lượng theo đúng quy định của Bộ.

          Năm 1964, để đảm bảo an toàn hệ thống tài liệu và một số hàng hoá đặc biệt, Bộ trưởng đã chỉ thị cho Văn phòng Bộ xây dựng một kho hàng đặc biệt tại khu vực Chẹ, Bất Bạt, Sơn Tây (nay là Hà Nội). Hàng hoá được nhập và cất giữ gồm: Tài liệu mật; vũ khí, đạn viện trợ; hàng kim loại quý như vàng, bạc, các loại tiền tệ dùng cho công tác nghiệp vụ; các tang vật thu được trong quá trình phá các vụ án gián điệp, biệt kích. Tháng 6/1965, Bộ cho thiết lập một kho hàng đã chiến tại khu vực Làng Đăm, Đồng Mỏ, tỉnh Lạng Sơn để tiếp nhận phương tiện, hàng hoá từ các nước xã hội chủ nghĩa viện trợ. Tháng 6/1966, Bộ quyết định cho xây một kho hàng tại Suối Hai, Sơn Tây (nay là Hà Nội) để tiếp nhận ô tô, mô tô, xuồng máy các loại.

          Cùng với công tác cấp phát, dự trữ, bảo quản hàng hóa, công tác vận tải trong thời kỳ đầu chống chiến tranh phá hoại lần thứ nhất cũng có nhiều bước phát triển, phục vụ trực tiếp chi viện cho An ninh miền Nam. Từ năm 1965 đến năm 1969, trong hoàn cảnh địch liên tục đánh phá ác liệt các tuyến giao thông, lực lượng vận tải đã tổ chức vận chuyển an toàn hàng nghìn tấn hàng hoá đến Công an các địa phương, đơn vị và chi viện An ninh miền Nam.

          Tại miền Nam, lực lượng hậu cần An ninh miền Nam cũng từng bước phát triển, đáp ứng nhu cầu phục vụ tại chỗ cho các cuộc chiến đấu bảo vệ căn cứ cách mạng và tham gia cùng Quân giải phóng đánh địch ở các chiến trường. Các kho vũ khí của An ninh T4 đã đảm bảo phục vụ tốt lực lượng An ninh, Biệt động thành chiến đấu, góp phần vào chiến thắng của ta trong cuộc Tổng tấn công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968.

          Ngày 08/5/1967, Bộ trưởng Bộ Công an ký Quyết định số 239/QĐ-CA quy định nhiệm vụ và tổ chức bộ máy của Vụ Tài vụ - Vật tư thuộc Bộ Công an, với nhiệm vụ giúp Bộ trưởng quản lý, giám đốc các loại kinh phí thuộc Bộ Công an và tổ chức thực hiện kế hoạch, kiến thiết cơ bản, vật tư và trang bị cấp phát phương tiện nghiệp vụ thuộc Bộ theo đúng chính sách, chế độ quy định của Nhà nước và của ngành Công an. Tháng 7/1968, Vụ Tài vụ vật tư đã tiến hành thống kê, đánh giá kết quả công tác hậu cần từ ngày hòa bình lập lại, đặc biệt là sau khi có Nghị quyết số 40/NQ của Bộ Chính trị đã xác định đặt lực lượng Công an vào khu vực An ninh và Quốc phòng. Trong thời kỳ này, lực lượng Công an đã được Nhà nước cấp một số lượng lớn phương tiện vận tải: 40 xe tải, 172 ô tô con, 165 mô tô ba bánh, 115 mô tô hai bán, 235 xe cứu hỏa, 880 xe đạp cho bảo vệ giao thông và 30 cano máy đẩy các loại.

          Tháng 12/1968, đối với công tác đảm bảo vũ khí, phương tiện kỹ thuật và trang cấp, Hội nghị Công an toàn quốc lần thứ 23 nêu rõ: Phải đảm bảo mọi nhu cầu phương tiện vật chất, trang bị kỹ thuật, phục vụ kịp thời các yêu cầu nhiệm vụ công tác bảo vệ, chiến đấu và xây dựng của toàn ngành trên các địa bàn và trong mọi tình huống. Cố gắng cải thiện vấn đề ăn, ở cho cán bộ chiến sĩ. Tại Hội nghị Công an toàn quốc lần thứ 24 (tháng 12/1969), đối với lĩnh vực công tác trang bị và kho vận, Bộ đã chỉ đạo: “Từng bước tiến hành xây dựng thêm nhà làm việc, nhà ở, kho tàng, xưởng máy, quản lý tốt các phương tiện đang được trang bị, chuẩn bị các điều kiện để mở rộng xây dựng và tăng cường trang bị phương tiện cho các năm sau”. Đây là lần đầu tiên, công tác quản lý trang bị và kho vận được đề cập chi tiết trong chương trình nghị sự của Hội nghị Công an toàn quốc bên cạnh các mặt công tác khác của lĩnh vực Hậu cần CAND.

          Tháng 1/1972, Hội nghị Công an toàn quốc lần thứ 26 đã đề cập đến công tác đảm bảo vũ khí phương tiện kỹ thuật và trang cấp: Đẩy mạnh công tác trang bị phương tiện công tác và chiến đấu, chế độ tiêu chuẩn cấp phát rõ ràng, bảo đảm ăn uống. Từ năm 1971-1972, Bộ đã cho xây dựng một khu kho vật tư tại thôn Thắng Trí, xã Minh Trí, huyện Kim Anh, tỉnh Vĩnh Phúc (nay thuộc huyện Sóc Sơn, Hà Nội) để tiếp nhận một khối lượng rất lớn các vật tư, thiết bị, phương tiện kỹ thuật do các nước XHCN viện trợ cần cất giữ, bảo quản. Đồng thời, Bộ cho thành lập Đội Xe vận tải (Đội A01) trực thuộc Văn phòng Bộ, biên chế 20 xe tải. Giai đoạn 1971-1972, Đội A01 đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ vận chuyển hàng hóa, vật tư từ Cảng Hải Phòng và ga Đồng Mỏ (được gọi là “cảng nổi” của miền Bắc) về các kho của Bộ; vận chuyển hàng chục tấn hàng từ kho Bộ đến Công an các địa phương và tham gia vận chuyển cán bộ, chiến sĩ Công an miền Bắc chi viện cho An ninh miền Nam. Đến năm 1974, Kho 192A – Quán Thánh luôn ở trong tình trạng quá tải. Trước tình hình đó, Bộ đã mua lại cơ sở vật chất của Xí nghiệp may 40 tại xã Đại Mỗ, Từ Liêm, Hà Nội để sửa chữa, cải tạo và xây dựng thành kho hàng, có sức chứa gấp nhiều lần so với kho 192 A – Quán Thánh.

          Ngày 01/8/1972, Bộ trưởng Bộ Công an ký văn bản số 426 ban hành “Kế hoạch thi hành Chỉ thị 120 của Thủ tướng Chính phủ về mặt quản lý vật tư trong ngành Công an”, trong đó giao cho Vụ Tài vụ - Vật tư chịu trách nhiệm công tác hướng dẫn, sử dụng, bảo quản tài sản vật tư toàn ngành. Đây là văn bản quan trọng, gắn việc chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị của ngành với công tác quản lý phương tiện, vật tư thiết bị theo một hệ thống thống nhất trong toàn ngành.

          Tháng 12/1974, hội nghị Công an toàn quốc họp bàn nhiệm vụ công tác Công an năm 1975, trong đó có đề cập tới công tác đảm bảo vũ khí, phương tiện kỹ thuật và trang cấp: Phải khắc phục khó khăn, chăm lo đầy đủ kinh phí và mua sắm các loại phương tiện, vật tư nhằm phục vụ tốt công tác chiến đấu và xây dựng lực lượng. Đặc biệt chú ý lập kế hoạch bổ sung và tiến hành mua sắm các phương tiện trang bị cho các lực lượng phục vụ bảo vệ an toàn Đại hội Đảng và các ngày lễ lớn của năm 1975...Nghiên cứu và quy định thêm một số chế độ, chỉ tiêu và tiêu chuẩn trang bị phương tiện cho các lực lượng trong ngành.

          Chuẩn bị cho Chiến dịch Tổng tiến công và nổi dậy Mùa Xuân năm 1975, Bộ thành lập Ban Chỉ viện miền Nam gồm 3 Tiểu ban: Tổ chức cán bộ, Cung cấp và Vận tải. Tiểu ban Vận tải tại thôn Phùng Khoang, xã Trung Văn, Từ Liêm, Hà Nội đã đề xuất Bộ chỉ đạo và cho thành lập Đội xe Đ263. Đây là lần đầu tiên, Bộ Công an tổ chức một đội xe theo biên chế như của một đơn vị vận tải quân sự. Với tinh thần hết sức khẩn trương, mau lẹ, chỉ ba ngày sau khi ra mắt, Đội xe Đ263 gồm 25 xe tải, 2 xe con đã xuất phát chở đoàn cán bộ chi viện An ninh miền Nam đầu tiên trong Chiến dịch Tổng tiến công và nổi dậy Mùa Xuân 1975 vào chiến trường. Tháng 4/1975, Đội xe Đ263 tiếp tục tổ chức một đoàn gồm 10 xe GAZ Vọt Tiến thực hiện nhiệm vụ đặc biệt chở 240 cán bộ Công an chỉ viện cho chiến trường miền Nam.

          Thực hiện mệnh lệnh của Bộ Công an, ngày 30/4/1975, một bộ phận công tác kho của Ban An ninh Trung ương Cục đã cùng các lực lượng vũ trang đi trên 60 xe ô tô các loại, theo sau đoàn xe tăng của quân đội đánh chiếm Tổng nha Cảnh sát quốc gia Ngụy. Bộ phận công tác này đã trực tiếp chiếm lĩnh và quản lý khu kho của Tổng nha. Tại đây, cán bộ an ninh đã thu nhận, quản lý toàn bộ số vũ khí, khí tài, dụng cụ, vật tư, văn phòng phẩm, quân trang, quân dụng và các vật tư khác. Cùng với việc chiếm lĩnh kho Tổng nha, Ban An ninh Trung ương Cục còn thu giữ thêm một số xe ô tô và phương tiện của chính quyền Ngụy bỏ lại tại bãi xe xã An Khánh, huyện Thủ Đức. Trên cơ sở số lái xe của Tiểu ban Hậu cần – Ban An ninh Trung ương Cục và số phương tiện thu giữ được, một Đội xe mới được thành lập tại thành phố Hồ Chí Minh.

          Sau 21 năm cùng với toàn lực lượng CAND đảm nhận nhiệm vụ giữ vững an ninh trật tự ở miền Bắc và chi viện cho An ninh miền Nam, góp phần cùng quân và dân miền Bắc đánh bại hai cuộc chiến tranh phá hoại ác liệt bằng không quân và hải quân của đế quốc Mỹ; tham gia tích cực vào các chiến dịch giải phóng miền Nam, lực lượng Quản lý trang bị và kho vận đã trưởng thành vượt bậc. Trong hoàn cảnh đất nước còn nhiều khó khăn, công tác đảm bảo vũ khí, phương tiện kỹ thuật, trang cấp và kho vận vẫn đáp ứng kịp thời cho lực lượng Công an trong công tác và chiến đấu. Sự chuyển đổi phương thức quản lý tài chính, tài sản từ phân tán, chia cắt sang quản lý thống nhất toàn ngành đã tạo nên sức mạnh đồng bộ của lực lượng Công an, đảm bảo phục vụ tốt các nhu cầu công tác, chiến đấu, xây dựng lực lượng Công an nhân dân trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Từ một bộ phận công tác nhỏ bé, đến khi kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ, lực lượng CAND đã có đơn vị thực hiện chức năng cung ứng, quản lý trang bị các loại vũ khí, phương tiện, quân trang và các nhu yếu phẩm khác phục vụ chiến đấu, công tác; có hệ thống kho hàng có sức chứa tương đối lớn, có năng lực tiếp nhận, bảo quản, cấp phát nhiều loại hàng hóa khác nhau. Từ một đội xe, một xưởng sửa chữa nhỏ lúc mới thành lập, sau 7 năm, lực lượng vận tải CAND đã có hai đội xe có chức năng và nhiệm vụ riêng, đáp ứng kịp thời yêu cầu nhiệm vụ chi viện cho An ninh miền Nam tham gia cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975 thắng lợi, thống nhất nước nhà.

          3. Lực lượng Quản lý trang bị và kho vận CAND trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975-1986)

          Sau đại thắng Mùa Xuân năm 1975, đất nước được thống nhất, non sông thu về một mối, cả nước đi lên xã hội chủ nghĩa, thực hiện hai nhiệm vụ lược là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. chiến

          Thực hiện Quyết định số 47/CP của Hội đồng Chính phủ, ngày 12/5/1975 của Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn ký ban hành Thông tư số 02/CA về chính sách đãi ngộ đối với cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân. Thông tư nêu rõ: “Cần phải mối xây dựng Công an nhân dân tiến lên chính quy, hiện đại, quân sự hóa, thống nhất lãnh đạo từ Bộ đến địa phương, có đội ngũ cán bộ đủ về số lượng tốt về chất lượng, có những trang bị cần thiết để đáp ứng yêu cầu về chiến đấu, về công tác. Đây là một dấu mốc quan trọng chuyển phương thức đảm bảo từ tính chất hành chính sự nghiệp sang đảm bảo cho lực lượng vũ trang thường trực chiến đấu.

          Ngày 22/10/1975, Bộ trưởng ban hành Quyết định số 2467/NV-QĐ về sửa đổi tổ chức bộ máy của Vụ Tài vụ vật tư, theo đó, tổ chức của Vụ Tài vụ vật tư gồm 14 đơn vị cấp phòng và tương đương, trong đó có Phòng Kế hoạch vật tư (P3), Phòng Quân nhu (P5), Phòng Quản lý phương tiện giao thông và vận tải trong đó có Đội xe (P6), các kho. Đây là các tổ chức đầu tiên được hình thành và cấu thành lực lượng Quản lý trang bị và kho vận sau này.

          Tại miền Nam, sau khi tiếp quản toàn bộ hệ thống kho tàng, vải vóc, lương thực, quân trang, thực phẩm, hồ sơ, tài liệu thuộc Tổng nha Cảnh sát Ngụy quyền Sài Gòn, lãnh đạo kho Tổng nha đã chỉ đạo, huy động lực lượng tiến hành thu gom, phân loại, xác định số lượng, chất lượng vũ khí, đạn dược, phương tiện, vật tư và các hàng hóa khác mà ta đã thu hồi của địch. Đầu năm 1976, tình hình biên giới phía Tây Nam cũng như tình hình an ninh trật tự tại Thành phố Hồ Chí Minh có nhiều diễn biến phức tạp, Bộ đã bố trí một kho tạm tại Rạch Dừa – Vũng Tàu và tổ chức di chuyển khối lượng lớn vật liệu nổ và hàng trăm tấn đạn súng bộ binh các loại từ kho Tổng nha về. Năm 1977, Bộ đã cho xây dựng một kho xăng dầu lớn tại xã Phú Xuân, huyện Nhà Bè, thành phố Hồ Chí Minh để đảm bảo nhu cầu xăng dầu cho hoạt động vận tải và dự phòng phục vụ chiến đấu của Công an các tỉnh phía Nam.

          Ngày 21/01/1977, Hội đồng Chính phủ ban hành Quyết định số 08/CP về việc sửa đổi tổ chức bộ máy của Bộ Nội vụ, theo đó, Vụ Tài vụ - Vật tư được tách thành Cục Cung cấp, Cục Vật tư kỹ thuật và 03 Vụ, Cục chuyên ngành hậu cần chính thức được thành lập. Ngày 18/4/1978, Bộ trưởng Bộ Nội vụ ban hành Quyết định số 54, 55/QĐ-BNV quy định chức năng nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Cục Cung cấp và Cục Vật tư kỹ thuật. Với việc thành lập Cục Cung cấp, Cục Vật tư kỹ thuật, công tác tham mưu cho lãnh đạo Bộ chỉ đạo, quản lý, cung ứng và sử dụng phương tiện, vật tư kỹ thuật, vũ khí, quân trang và nuôi quân trong toàn ngành đã có cơ quan chuyên môn cấp Cục phụ trách.

          Được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, ngày 14/2/1977, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 66/TTg xác định Bộ Nội vụ là một đầu mối kế hoạch nhà nước. Các chủ trương đảm bảo cung cấp cho lực lượng Công an theo định lượng của lực lượng vũ trang.

          Trước yêu cầu đảm bảo hậu cần, kỹ thuật, phương tiện và đời sống vật chất ở Công an các cấp ngày càng tăng, ngày 07/6/1977, Bộ ra Quyết định số 09/QĐ-BNV chuyển các kho Bộ từ Vụ Tài vụ về Văn phòng Tổng hợp kế hoạch hậu cần (với phiên hiệu PA7). Do lượng hàng hòa ngày càng tăng, Bộ chỉ đạo cho chuyển toàn bộ hàng hóa, vật tư ở kho 192A – Quán Thánh về kho Đại Mỗ để cất giữ và cấp phát cho Công an các đơn vị, địa phương phía Bắc, đồng thời, Bộ cho bố trí một kho đã chiến (kho Tây Tựu trực thuộc kho Đại Mỗ) tại xã Tây Tựu, Từ Liêm, Hà Nội để tiếp nhận xăng dầu.

          Tháng 7/1977, Bộ triển khai hội nghị công tác hậu cần lần thứ hai. Lãnh đạo Bộ hết sức quan tâm đến công tác trang bị và kho vận và xác định nhiệm vụ trọng tâm của công tác quản lý trang bị và kho vận tập trung ở các nội dung chính:

          - Cung ứng kịp thời các loại vật tư, thiết bị, phương tiện kỹ thuật cần thiết theo yêu cầu công tác, chiến đấu của từng lực lượng. Thực hiện việc dự phòng chiến đấu và công tác của từng cấp, từng lực lượng theo quy định của Bộ, đảm bảo công tác quản lý theo đúng chế độ quy định;

          - Cung cấp các loại trang phục, lương thực, thực phẩm và nhu yếu phẩm khác theo đúng chế độ tiêu chuẩn quy định;

          - Tổ chức đảm bảo công tác vận chuyển...tổ chức quản lý và bảo đảm sửa chữa các loại xe cộ, tàu thuyền và các phương tiện đã được trang bị.

 

          Đầu tháng 2/1979, lãnh đạo Bộ yêu cầu Phòng Kho vận (trực thuộc Bộ) tổ chức lực lượng xe và các tổ lái sẵn sàng vận chuyển người, vũ khí, phương tiện, hàng hóa tăng cường cho các tỉnh biên giới phía Bắc. Từ năm 1978-1980, tình hình biên giới phía Bắc cực kỳ căng thẳng. Nhằm đảm bảo an toàn cho các mặt hàng dự trữ chiến lược, Bộ cho xây dựng kho An Tiến với phiên hiệu K5 tại Mỹ Đức, Hà Sơn Bình (nay là Hà Nội) để cất trữ các hàng hóa như: ô tô, xe máy, vũ khí... Đồng thời, Bộ cho xây dựng thêm một số kho tổng hợp tại huyện Mỹ Đức gồm: kho Xuy Xá và kho Trinh Tiết để trự trữ, bảo quản, cấp phát lương thực, thực phẩm, thuốc men...; kho Tuy Lai để cất giữ các loại mìn, chất nổ, kíp nổ, dây cháy chậm; Kho xăng dầu dã chiến (K7) tại xã Tự Nhiên, Thường Tín, Hà Sơn Bình (nay là Hà Nội).        

          Thi hành Nghị định số 250/CP, ngày 12/6/1981 của Hội đồng Bộ trưởng quy định nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức của Bộ Nội vụ; ngày 18/6/1981, Bộ trưởng Bộ Nội vụ ký Quyết định số 14/QĐ-BNV quy định nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức của Tổng cục Hậu cần Công an nhân dân (Tổng cục IV). Về tổ chức bộ máy, Tổng cục IV có 12 đơn vị cấp Cục và tương đương, trong đó có Cục Cung cấp (H14), Cục vật tư kỹ thuật (H15), Tổng kho (H21) và Đoàn Vận tải (H22), là những đơn vị tiền thân của Cục Trang bị và kho vận hiện nay.

          Thực hiện nhiệm vụ “từng bước trang bị các phương tiện kỹ thuật cần thiết cho cán bộ, chiến sĩ nhằm nâng cao chất lượng và hiệu lực công tác. Hoàn chỉnh một bước hệ thống thông tin liên lạc trong toàn ngành và tăng cường phương tiện giao thông vận tải cho các đơn vị chiến đấu, nhất là các đơn vị ở vùng trọng điểm”, giai đoạn 1981-1986, lực lượng Quản lý trang bị và kho vận đã tích cực tổ chức thực hiện thắng lợi nhiều nhiệm vụ chính trị quan trọng như:

          - Trang cấp phương tiện kỹ thuật cho Công an các đơn vị, địa phương: Tiếp nhận các loại mô tô 2 bành, mô tô 3 bánh (ypaH), các loại xe ô tô Gat 69, Lada, Zil, Kamaz, xuồng nhôm lắp máy từ 12-30Cv của Liên Xô, các loại máy tổng thành, các loại phụ tùng, xăng dầu nhập kho đầy đủ, an toàn và tổ chức bảo quản, quản lý, cấp phát nhanh chóng, kịp thời cho Công an các đơn vị, địa phương phục vụ công tác và chiến đấu. Tổ chức việc xây dựng các tiêu chuẩn định mức sử dụng, định mức tiêu hao nhiên liệu, soạn thảo và ban hành quy ché quản lý sử dụng xe, xăng dầu trong lực lượng CAND... Về quân trang, chủ động nghiên cứu tiêu chuẩn, chế độ cung cấp, quy cách, màu sắc các loại trang phục cho phù hợp với tính chất, đặc điểm hoạt động, chiến đấu của từng lực lượng, thích hợp với khí hậu, thời tiết của từng vùng, từng mùa. Công tác mua sẵm, gia công, tiếp nhận, quản lý, phân phối, sử dụng các trang phục cho cán bộ, chiến sĩ đã được tổ chức tốt. Công tác sản xuất tạo nguồn để tăng cường trang bị, phương tiện và dụng cụ nấu ăn cho các nhà ăn tập thể, các đơn vị chiến đấu cơ động đã được Công an nhiều địa phương, đơn vị tích cực thực hiện.

          - Công tác kho vận: Thực hiện chỉ đạo của lãnh đạo Bộ và lãnh đạo Tổng cục Hậu cần Công an nhân dân, để đáp ứng công tác, chiến đấu của Công an các tỉnh biên giới phía Bắc và lễ kỷ niệm 30 năm chiến thắng Điện Biên Phủ, Tổng kho đã tổ chức cấp phát cho Công an các tỉnh biên giới phía Bắc 22 mặt hàng, bao gồm: 20 xe ô tô, 10 xe mô tô, 605 tấn xăng, dầu và nhiều mặt hàng khác... Các kho Đại Mỗ, Hải Phòng đã cấp phát nhanh gọn cho Công an các địa phương nói trên.

          Từ năm 1982 - 1984, Đoàn vận tải đã triển khai xây dựng trụ sở Đội xe I, Trạm bảo dưỡng, sửa chữa ô tô, máy kéo MK50 tại Trung Văn, Từ Liêm, Hà Nội và trụ sở Đội xe II tại An Khánh, Thủ Đức, TP. Hồ Chí Minh. Để tiếp tục phát triển công tác vận tải, ngày 30/8/1984, Bộ đã ký Quyết định số 3086/QĐ BNV về việc thành lập các trạm xe thuộc Đoàn vận tải để phục vụ vận chuyển cán bộ chiến sỹ đi công tác, chiến đấu, nghỉ phép trên tuyến Bắc - Nam. Sau 180 hơn 2 năm triển khai thực hiện Quyết định trên, Đoàn Vận tải đã hoàn thành và chi đưa vào sử dụng các công trình, đó là: Trạm xe I tại Trung Văn, Từ Liêm, Hà Nội; Trạm xe II tại Thị trấn Kỳ Anh, Hà Tĩnh; Trạm xe III tại quận Thanh Khê, TP. Đà Nẵng; Trạm xe IV đặt xã Vĩnh Phương, TP. Nha Trang, Khánh Hòa; Trạm xe V tại An Khánh, Thủ Đức, TP. Hồ Chí Minh. Song song với việc xây dựng cơ sở vật chất, Đoàn vận tải đã tổ chức thực hiện vận chuyển một khối lượng lớn hàng hóa đáp ứng yêu cầu công tác, chiến đấu của lực lượng CAND. Đặc biệt, trong năm 1985, Đoàn Vận tải được giao nhiệm vụ phối hợp với Cục Cảnh sát Bảo vệ và Ngân hàng Việt Nam tổ chức vận chuyển tiền mới, phục vụ đợt đổi tiền của Nhà nước. Cũng trong giai đoạn này, lực lượng vận tải đã tham gia chuyên án CM12 (vụ án Lê Quốc Tuý, Mai Văn Hạnh), tập kết chở hàng trăm tấn vũ khí về nhập kho Bộ và vận chuyển một khối lượng lớn tiền giả ra Nhà máy giấy XZ72 để tiêu huỷ.

          Để nâng cấp hệ thống kho của Bộ, ngay sau khi thành lập, Tổng kho đã có kế hoạch xây dựng mới hệ thống các nhà kho cũ, nhà kho tạm hiện có và tiếp tục quy hoạch toàn bộ hệ thống kho, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ tiếp nhận, bảo quản, cấp phát hàng hóa. Ngày 08/01/1985, Bộ Nội vụ có Quyết định số 02/QĐ-BNV về việc thành lập Ban Quản lý các công trình xây dựng kho, lấy tên là “Đoàn 79”, trực thuộc Tổng kho để quản lý, xây dựng, cải tạo hệ thống kho Bộ. Cùng với việc quy hoạch xây dựng hệ thống kho, Tổng kho đã chỉ đạo thực hiện tốt nhiệm vụ xuất, nhập, bảo quản và vận chuyển hàng hóa phục vụ công tác, chiến đấu của lực lượng CAND.

          Trong giai đoạn này, phương thức đảm bảo trong lực lượng CAND hoàn toàn thay đổi từ hành chính sự nghiệp sang đảm bảo cho lực lượng vũ trang thường trực chiến đấu; đòi hỏi cán bộ chiến sĩ làm công tác quản lý trang bị và kho vận phải nâng cao trình độ, nắm bắt được tiến bộ khoa học kỹ thuật, tác phong làm việc phải chính quy theo chế độ của lực lượng vũ trang. Với vai trò, vị trí của công tác quản lý trang bị và kho vận ngày càng nâng cao, Lãnh đạo Bộ luôn quan tâm và tập trung chỉ đạo; đã ban hành các chế độ, quy định, tiêu chuẩn... tạo nên sức mạnh đồng bộ, thống nhất hoạt động công tác quản lý trang bị và kho vận trong toàn lực lượng. Lãnh đạo Công an các cấp, cán bộ chiến sĩ làm công tác quản lý trang bị và kho vận đã năng động, sáng tạo chuyển hướng mau lẹ nên đã đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao.

          4. Lực lượng Quản lý trang bị và kho vận CAND trong công cuộc đổi mới và đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước (1986 đến nay)

          4.1. Giai đoạn 1986-1996:

          Nghị quyết Trung ương 6 khóa V và Đại hội VI của Đảng là một mốc lịch sử quan trọng đánh dấu sự đổi mới tư duy quản lý kinh tế. Nền kinh tế nước ta chuyển từ nền kinh tế tập trung quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của Nhà nước.

          Thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ VI của Đảng, lực lượng CAND thực hiện đổi mới toàn diện công tác Công an, tập trung đổi mới tổ chức, phương thức hoạt động của các lực lượng, các bình chủng phù hợp với sự đổi mới của th đất nước. Tổng cục Hậu cần Công an nhân dân đã tham mưu, đề xuất báo cáo Lãnh đạo Bộ một số chủ trương biện pháp mới, đó là: Khoán cấp kinh phí; phân cấp trong mua sắm trang thiết bị vật tư kỹ thuật; chuyển hướng mua sắm phương tiện, trang thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ từ khu vực I sang khu vực li Công tác quản lý trang bị và kho vận giai đoạn này có sự chuyển biến rõ rệt. Trước đây, mọi nhu cầu đều theo kế hoạch, Nhà nước căn cứ vào khả năng phân bổ chỉ tiêu về phương tiện, máy móc...cho ngành Công an. Do xóa bỏ bao cấp nên các chỉ tiêu không còn nữa, công tác đảm bảo trang bị phải khai thác các nguồn ở khu vực II, vì vậy đã có những hụt hẫng ban đầu. Với sự cố gắng nỗ lực lực lượng Quản lý trang bị và kho vận đã chủ động trang bị, bổ sung hầu như mới toàn bộ các phương tiện giao thông, phương tiện kỹ thuật nghiệp vụ, thông tin liên lạc, đảm bảo đủ trang phục cấp phát cho cán bộ, chiến sĩ khi thực hiện pháp lệnh an ninh nhân dân và cấp phát thường xuyên hàng năm đảm bảo đúng mẫu và chất lượng trang phục theo quy định.

          Ngày 16/9/1987, Bộ Nội vụ ra Quyết định số 66/QĐ-BNV quy định về chức năng, nhiệm vụ và tổ chức Cục Kho vận trên cơ sở sáp nhập Đoàn vận tải và Tổng kho. Sự kiện này là bước tiến quan trọng trong việc sắp xếp hợp lý để nâng cao hiệu quả hoạt động của lực lượng Kho và vận tải nói riêng, lực lượng Quản lý trang bị và kho vận CAND nói chung.

          Thực hiện quyết định trên, Cục Kho vận đã nhanh chóng ổn định tổ chức, triển khai công tác và đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Bên cạnh đó, mạng lưới kho Bộ tiếp tục được quy hoạch, kiện toàn và mở rộng: Năm 1990, xây dựng kho xăng dầu Hoà Khánh tại TP. Đà Nẵng để dự trữ và cấp phát cho Công an các tỉnh miền Trung; tổ chức 2 trung tâm cấp phát, phía Bắc ở kho Đại Mỗ, phía Nam ở kho 258 Nguyễn Trãi.

          Đối với công tác vận tải, từ năm 1987 đến 1992 là giai đoạn hoạt động đa dạng của nhiều loại hình phương tiện và đạt được những kết quả thiết thực. Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng VI về đổi mới nền kinh tế, từng bước xoá bỏ cơ ché quan liêu bao cấp, được sự chỉ đạo của Lãnh đạo Bộ và Lãnh đạo Tổng cục Hậu cần, Cục Kho vận đã chuyển dần hoạt động vận chuyển xe ca sang hạch toán kinh tế. Với 17 xe ca được trang bị, trong đó thường xuyên có 14 xe hoạt động đã mang lại hiệu quả thiết thực, vừa hoàn thành được nhiệm vụ được giao vừa nâng cấp được phương tiện, giảm chi phí của Bộ.

          Như vậy, trong giai đoạn 1986-1996, sự sụp đổ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu dẫn đến sự viện trợ của các nước này không còn, vật tư, phụ tùng để sửa chữa các máy móc, phương tiện kỹ thuật nghiệp vụ và thiết bị kỹ thuật khác không có để thay thế, bảo dưỡng. Đất nước ta rơi vào hoàn cảnh khó khăn. Lợi dụng chính sách mở cửa, các thế lực thù địch tìm mọi cách xâm nhập vào nước ta hòng phá hoại sự nghiệp cách mạng và công cuộc đổi mới. Tuy nhiên, do dự báo, phán đoán tình hình chính xác, với sự quan tâm, chỉ đạo của Lãnh đạo Bộ, lãnh đạo Tổng cục nên công tác quản lý trang bị và kho vận giai đoạn này đã kịp thời chuyển hướng, đảm bảo cho các đơn vị, địa phương có đủ phương tiện phục vụ công tác, sử dụng hợp lý, tiết kiệm nguồn ngân sách nhà nước,

          4.2. Giai đoạn 1996 – 8/2018:

          Trong chỉ thị công tác Công an những năm 1996, 1997, 1998, Bộ trưởng đã chỉ đạo: Tổng kiểm kê nắm thực lực, thực trạng trang bị phương tiện và cơ sở vật chất trong Công an. Cải tiến phương thức mua sắm, cấp phát, trang bị đúng mục đích, đối tượng, địa bàn. Kết hợp mua sắm toàn bộ với việc sản xuất linh kiện, phụ tùng lắp ráp trong nước. Xây dựng biểu định mức trang bị đối với từng lực lượng đặc nhiệm, lực lượng cơ động, các lực lượng trực tiếp chiến đấu. Tăng cường kiểm tra quản lý phương tiện nhằm phát huy hiệu quả, chống lãng phí, triệt để tiết kiệm. Quy định lại việc phân cấp trách nhiệm và nguyên tắc mua sắm thiết bị cho phù hợp với điều kiện kinh tế thị trường.

          Để giúp Bộ trưởng thống nhất quản lý, chỉ đạo công tác quản lý trang bị kỹ thuật và trang cấp của lực lượng Công an nhân dân, ngày 18/3/1996, Bộ đã có Quyết định số 587/QĐ-BNV(X13) quy định nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của Cục Quản lý trang bị kỹ thuật và trang cấp. Cục Quản lý trang bị kỹ thuật và trang cấp thuộc Tổng cục Hậu cần (sau là Tổng cục Hậu cần – Kỹ thuật) với chức năng và trách nhiệm giúp Tổng cục trưởng thống nhất quản lý, chỉ đạo, tổ chức trang bị kỹ thuật và trang cấp đảm bảo cho yêu cầu chiến đấu, công tác, xây dựng lực lượng của toàn lực lượng Công an nhân dân. Hệ thống lực lượng quản lý trang bị kỹ thuật và trang cấp tiếp tục được củng cố từ Bộ đến Công an các đơn vị, địa phương. Ở Bộ có Cục Quản lý trang bị kỹ thuật và trang cấp trực thuộc Tổng cục Hậu cần – Kỹ thuật. Đối với Công an các đơn vị, địa phương có đội quản lý phương tiện, vật tư kỹ thuật, đội quản lý quân trang thuộc Phòng Hậu cần – kỹ thuật; ở các Tổng cục, Bộ Tư lệnh Cảnh sát cơ động có Phòng Hậu cần - kỹ thuật hoặc Phòng Hậu cần và trang bị, kỹ thuật. Đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý trang bị kỹ thuật, trang cấp và kho vận được bố trí từ Bộ đến các đơn vị được củng cố cả về số lượng cũng như chuyên môn, nghiệp vụ, đáp ứng yêu cầu công tác, chiến đấu và xây dựng lực lượng CAND trong từng thời kỳ.

          Giai đoạn từ 1997-2005, lực lượng Kho vận đã thực hiện các nhiệm vụ quản lý, nhập, xuất, bảo quản và vận chuyển hàng ngàn tấn hàng hóa đáp ứng yêu cầu hậu cần, kỹ thuật phục vụ công tác, chiến đấu của lực lượng CAND; đã cùng với các lực lượng trực tiếp chiến đấu tham gia bảo vệ các sự kiện chính trị trọng đại, các ngày lễ lớn của đất nước như: Hội nghị cấp cao các nước sử dụng tiếng Pháp tổ chức tại Hà Nội, năm 1997; Đại hội thể dục thể thao Đông Nam Á lần thứ 22 (SEAGAMES 22) năm 2003; Hội nghị Diễn đàn hợp tác Á -Âu lần thứ 5 (ASEM 5), năm 2004... Từ đầu năm 2001, thực hiện chỉ đạo của lãnh đạo Bộ và Tổng cục Hậu cần, từ ngày 02 đến ngày 04/02/2001, đã khẩn trương tổ chức xuất hàng, vận chuyển phương tiện, công cụ hỗ trợ chi viện kịp thời cho các lực lượng trực tiếp chiến đấu, hỗ trợ kịp thời cho các đơn vị nghiệp vụ, góp phần đảm bảo an ninh, trật tự trên địa bàn Tây Nguyên.

          Trong các năm từ 2006-2007, ngoài các nhiệm vụ công tác thường xuyên, lực lượng Quản lý trang bị và kho vận đã tổ chức xuất và vận chuyển đột xuất hàng trăm tấn hàng hóa, phương tiện đến Công an các đơn vị, địa phương bảo đảm an toàn phục vụ kịp thời công tác phòng chống và khắc phục hậu quả thiên tai bão lụt tại các tỉnh phía Bắc như Cao Bằng, Hà Giang, Yên Bái, Phú Thọ, Quảng Ninh và các tỉnh miền Trung - Tây Nguyên; xuất vận chuyển công cụ hỗ trợ chi viện cho Công an tỉnh Phú Yên đảm bảo an ninh trật tự trên địa bàn. Đặc biệt, tháng 11/2006, đã cử lái xe tham gia chuyên chở nguyên thủ quốc gia và phục vụ công tác bảo vệ, hậu cần tại Hội nghị APEC-14.

          Thực hiện chủ trương sắp xếp, kiện toàn tổ chức của lực lượng CAND để đáp ứng nhiệm vụ trong giai đoạn mới, Chính phủ ban hành Nghị định 77/2009/NĐ-CP, ngày 15/9/2009 và Nghị định số 106/2014/NĐ-CP, ngày 17/11/2014 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công an. Căn cứ Nghị định của Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Công an ký Quyết định số 4047/QĐ-BCA, ngày 11-12-2009 và Quyết định số 7833/QĐ BCA quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Tổng cục Hậu cần - Kỹ thuật (Tổng cục IV); về tổ chức bộ máy, gồm 26 đơn vị trực thuộc, trong đó có Cục Quản lý trang bị kỹ thuật và trang cấp (H44), Cục Kho vận (H52), Phòng Tài chính và quản lý công sản (H55), Phòng Kế hoạch và đầu tư (H60). Tiếp đó, ngày 20/01/2016, Bộ trưởng Bộ Công an ban hành Quyết định số 268/QĐ-BCA thành lập và quy định chức năng nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Trung tâm đấu thầu mua sắm tập trung Bộ Công an (H61) trực thuộc Tổng cục Hậu cần – Kỹ thuật. H61 là đơn vị sự nghiệp công - lập trực thuộc Tổng cục Hậu cần – Kỹ thuật, có trách nhiệm giúp Tổng cục trưởng tổ chức đấu thầu, mua sắm tài sản theo danh mục sản phẩm, hàng hóa đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt từ các nguồn kinh phí Bộ giao cho Tổng cục Hậu cần – Kỹ thuật thực hiện... Đây là các đơn vị sau này được sáp nhập thành Cục Trang bị và kho vận.

          Thực hiện Chiến lược chỉ đạo của lãnh đạo Bộ Công an về việc mở rộng, phát triển mạng lưới kho vận của Bộ, ngày 03/8/2011, Bộ trưởng Bộ Công an đã ký Quyết định số 3093/QĐ-BCA-H41 phê duyệt "Quy hoạch mạng lưới kho - kho dự trữ quốc gia và cơ sở hạ tầng vận tải đường bộ của Bộ Công an đến năm 2020, định hướng đến năm 2050". Theo đề án, đến năm 2020, mạng lưới kho Bộ gồm 16 kho được phân thành 06 khu vực: Khu vực Đồng bằng Bắc Bộ 05 điểm, khu vực Tây Bắc 02 điểm; khu vực Trung Bộ 03 điểm; khu vực Tây Nguyên 01 điểm; khu vực Tây Nam Bộ 02 điểm. Về cơ sở hạ tầng vận tải gồm 04 điểm chính: Đội xe I và Trung tâm huấn luyện phương tiện đặc chủng phía Bắc; Trạm Kỳ Anh (Hà Tĩnh); Trạm Nha Trang (Khánh Hòa); Đội xe II và Trung tâm huấn luyện phương tiện đặc chủng phía Nam tại thành phố Hồ Chí Minh.

          Trong điều kiện kinh tế xã hội đất nước còn nhiều khó khăn, hậu cần Công an nhân dân, trong đó có lực lượng quản lý trang bị và kho vận đã đảm bảo cấp đủ trang phục, chế độ tiêu chuẩn, đảm bảo nuôi quân, tăng thêm tiêu chuẩn quân trang, chống rét...cho cán bộ chiến sĩ công tác ở vùng sâu, vùng xa và hải đảo, tuần tra canh gác ở các trại giam, tuần tra cơ động. Điều kiện làm việc ở các đơn vị đã cơ bản được cải thiện, nâng cao so với mặt bằng chung của xã hội. Các điều kiện sinh hoạt, nghỉ ngơi, nhà ở tập thể, bàn ghế làm việc văn phòng, phương tiện đi lại...cũng được nâng lên nhiều so với trước đây.... Về trang bị cơ bản đã tập trung đồng bộ cho lực lượng chiến đấu và Công an cấp quận, huyện bao gồm các phương tiện vận chuyển như ô tô, xe máy, tàu thuyền, vali khám nghiệm, máy ảnh nghiệp vụ, tủ tài liệu và các phương tiện đảm bảo truy bắt tội phạm, các loại vũ khí (máy bộ đàm, công cụ hỗ trợ, áo giáp, lá chắn, dùi cui, T khóa còng...). Các lực lượng trực tiếp chiến đấu đã được trang bị đồng bộ cơ cao bản, nhiều lực lượng được trang bị các phương tiện, thiết bị hiện đại để phục vụ công tác và chiến đấu.

          Đồng thời, lực lượng Quản lý trang bị và kho vận đã triển khai việc cải tạo, sửa chữa, nâng cấp các kho nhằm đảm bảo tốt nhất điều kiện lưu giữ hàng hóa. Đã chủ động bố trí đủ lượng hàng hóa cần thiết tại các kho Tây Nguyên, Cần Thơ và 258 Nguyễn Trãi, thành phố Hồ Chí Minh, đáp ứng các yêu cầu công tác, chiến đấu trong mọi tình huống. Hàng hóa được sắp xếp gọn gàng, quản lý chặt chẽ. Xuất nhập hàng hóa thực hiện nghiêm túc theo quy chế công tác kho. Thực hiện nghiêm túc chế độ trực ban, bố trí đủ quân số ứng trực sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ khi có tình huống đột xuất xảy ra. Đặc biệt đã hoàn thành xuất sắc công tác chỉ viện và vận chuyển hàng hóa kịp thời phục vụ cho các yêu cầu chiến đấu của các lực lượng Công an tham gia giải quyết tình hình bạo loạn tại Tây Nguyên, cho lực lượng chữa cháy rừng U Minh, cho các tỉnh bị lũ lụt tại miền Trung và Tây Nam Bộ, phục vụ công tác liên vận quốc tế, vận chuyển hàng hóa cho Bộ An ninh Lào và Campuchia, góp phần vào thành tích chung của toàn lực lượng. Đã trang bị thêm xe vận tải mới và duy trì việc bảo dưỡng, sửa chữa phương tiện nên luôn đảm bảo số xe hoạt động phục vụ kịp thời các yêu cầu chiến đấu, công tác.

          Với sự đổi mới về nhận thức, tổ chức cán bộ và cơ chế chính sách phục vụ công tác, chiến đấu và xây dựng lực lượng, nhanh chóng chuyển đổi cơ chế và phương thức đảm bảo hậu cần – kỹ thuật, trong đó có đảm bảo trang bị từ đảm bảo hiện vật là chính sang kết hợp giữa tiền tệ hóa và trang bị hiện vật, công tác quản lý trang bị và kho vận từng bước đi vào quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án đầu tư phát triển chiều sâu với hàm lượng kỹ thuật cao, công nghệ mới. Do vậy, sức mạnh tổng hợp của lực lượng Công an được nâng cao thêm một bước so với mặt bằng sức mạnh của các nước trong khu vực ASEAN.

          4.3. Giai đoạn 8/2018 đến nay:

          Từ năm 2018 đến nay, tình hình thế giới, khu vực có nhiều biến động phức tạp; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, nhất là chiến tranh thương mại, công nghệ giữa Mỹ - Trung Quốc diễn ra gay gắt, ngày càng trực diện, quyết liệt hơn, chi phối mạnh cục diện thế giới, tác động nhiều mặt đến hợp tác quốc tế và triển khai chính sách của các quốc gia. Đại dịch Covid-19 bùng phát tác động tiêu cực đến mọi mặt của đời sống xã hội kéo theo kinh tế thế giới rơi vào tình trạng suy thoái. Trong khu vực, Trung Quốc tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động chiếm đóng trái phép, quân sự hóa các đảo nhằm khẳng định “chủ 7 quyền”, lợi ích của Trung Quốc ở biển Đông, đồng thời lôi kéo, chia rẽ các nước trong khối ASEAN. Thế giới đứng trước nhiều nguy cơ, thách thức lớn về an ninh phi truyền thống, cùng với sự phát triển nhanh chóng của khoa học, kỹ thuật tạo ra những thời cơ, thuận lợi cơ bản, song cũng đặt ra nhiều thách thức về đảm bảo an ninh, lợi ích của các quốc gia, trong đó có Việt Nam.

          Trong nước, tình hình chính trị ổn định; công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, kiện toàn hệ thống chính trị và đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí được triển khai quyết liệt, góp phần củng cố niềm tin trong nhân dân; an ninh quốc gia được giữ vững, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo; các hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế được đẩy mạnh, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng lên.

          Bên cạnh các thuận lợi cơ bản nêu trên, nước ta cũng đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức to lớn. Tình hình biển Đông diễn biến căng thẳng, các thế lực thù địch, phản động tiếp tục tăng cường hoạt động chống phá với những thủ đoạn tinh vi, nguy hiểm hơn. Áp lực gia tăng tội phạm ngày càng lớn. Tình hình thiên tai, dịch bệnh, biến đổi khí hậu ảnh hưởng đến nhiều mặt kinh tế, văn hóa, an ninh, xã hội trên toàn quốc. Quy mô kinh tế nước ta còn khiêm tốn, nhu cầu chi ngân sách không ngừng tăng; tích lũy ngân sách cho đầu tư phát triển thấp. Đầu tư của Nhà nước cho lực lượng Công an đã được quan tâm nhưng chưa đáp ứng đủ cho nhu cầu ngày càng cao phục vụ yêu cầu công tác, chiến đấu và xây dựng lực lượng CAND.

          Năm 2018, Bộ Công an triển khai mô hình tổ chức mới theo Nghị định số 01/2018/NĐ-CP, ngày 06/8/2018 của Chính phủ. Cục Trang bị và kho vận (H03) được thành lập theo Quyết định số 4015/QĐ-BCA, ngày 06/8/2018 của Bộ trưởng Bộ Công an. Cục H03 là đơn vị trực thuộc Bộ trên cơ sở sáp nhập 05 đơn vị thuộc Tổng cục Hậu cần - Kỹ thuật trước đây, gồm: Cục Quản lý Trang bị kỹ thuật và trang cấp (H44), Cục Kho vận (H52), Phòng Tài chính và Quản lý công sản (H55), Phòng Kế hoạch và đầu tư (H60), Trung tâm đấu thầu mua sắm tập trung Bộ Công an (H61), có chức năng tham mưu giúp Bộ trưởng về công tác quản lý về trang bị kỹ thuật, trang cấp và kho vận trong CAND; trực tiếp tổ chức đảm bảo kỹ thuật, quân trang, nuôi quân, công tác dự trữ quốc gia, dự phòng chiến đấu, công tác kho và vận tải theo quy định của Nhà nước và Bộ Công an đáp ứng yêu cầu chiến đấu, công tác và xây dựng lực lượng CAND.

 

          Bám sát Nghị quyết của Đảng ủy Công an Trung ương, Chỉ thị của Bộ trưởng Bộ Công an về nhiệm vụ công tác Công an hàng năm, Cục H03 đã nhanh chóng tổ chức, triển khai chức năng, nhiệm vụ và tổ chức công tác đảm bảo trang bị, kho và vận tải theo phương châm “chủ động, hiệu quả, tiết kiệm và hiện đại”, đáp ứng kịp thời yêu cầu công tác, chiến đấu và xây dựng lực lượng CAND. Kết quả công tác trang bị và kho vận CAND được Đảng ủy Công an Trung ương, lãnh đạo Bộ Công an đánh giá, ghi nhận trên một số điểm sau:

          Một, đã đổi mới tư duy, nhận thức và phương thức hoạt động Chủ động tham mưu lãnh đạo các cấp khai thác, tăng cường, đa dạng nguồn lực đảm bảo trang bị, trang cấp và kho vận trong và ngoài ngành, góp phần đáp ứng yêu cầu công tác, chiến đấu và xây dựng lực lượng CAND. Công tác trang bị và kho vận được tổ chức theo hướng bám sát thực tiễn, dự báo tình hình, nhu cầu thực tế của các đơn vị nghiệp vụ.

          Hai, đổi mới công tác xây dựng kế hoạch. Kế hoạch mua sắm - trang bị phương tiện, xăng dầu, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ, vũ khí, công cụ hỗ trợ, quân trang đã được chủ động xây dựng theo hướng chuyên sâu, bám sát nhu cầu thực tế và thực lực hiện có của Công an các đơn vị, địa phương. Bên cạnh kế hoạch hàng năm, chủ động làm tốt việc hoạch định kế hoạch mua sắm – trang bị trung hạn 05 năm; qua đó đã định hướng cần tập trung trang bị trong 05 năm và từng năm; góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách, tổ chức sử dụng ngân sách khoa học, đảm bảo yếu tố lâu dài – ngắn hạn; tránh trùng dẫm, tình trạng đầu tư thừa - thiếu. Kế hoạch mua sắm, trang bị hàng năm đảm bảo chấp hành chủ trương của Đảng, Nhà nước, Đảng ủy Công an Trung ương, lãnh đạo Bộ Công an về ưu tiên đầu tư, trang bị cho các lực lượng; xuất phát từ nhu cầu thực tế của Công an các đơn vị, địa phương; khả năng cân đối ngân sách; ứng dụng hiệu quả thành tựu khoa học – kỹ thuật – công nghệ lĩnh vực an ninh trong nước và trên thế giới. Phương pháp xây dựng kế hoạch đảm bảo khoa học, sáng tạo.

          Ba, đổi mới công tác trang bị

          Chủ động rà soát, từng bước chuẩn hóa hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước về trang bị và kho vận CAND. Chủ động triển khai công tác đảm bảo trang bị từ khâu xây dựng kế hoạch đến đầu tư mua sắm đảm bảo khoa học, thiết thực, bám sát nhu cầu thực tế của từng hệ lực lượng, từng địa bàn và Công an từng đơn vị, địa phương; chú trọng ưu tiên trang bị cho các lực lượng trực tiếp chiến đấu (an ninh, tình báo, cảnh sát cơ động, cảnh sát hình sự, cảnh sát phòng chống tội phạm về ma túy, công an xã chính quy...). Cải cách trong công tác cấp phát, thực hiện cấp phát theo cơ chế “một cửa”, “giao thẳng tại đơn vị sản xuất” nhằm đơn giản hóa thủ tục hành chính, tạo điều kiện thuận lợi và tiết kiệm kinh phí, nhân lực cho Công an các đơn vị, địa phương. Kịp thời tham mưu đảm bảo trang bị đáp ứng tối đa yêu cầu công tác, chiến đấu của toàn lực lượng, đặc biệt là đảm bảo tiến độ triển khai Công an xã chính quy tại Công an các địa phương; tham mưu kịp thời đảm bảo trang bị trong giải quyết các điểm nóng về an ninh trật tự, phòng chống dịch bệnh, thiên tai, đảm bảo an ninh, an toàn các sự kiện chính trị trọng đại của đất nước, các hội nghị quốc tế tổ chức tại Việt Nam (điển hình như giải quyết điểm nóng về an ninh trật tự tại Bình Thuận, Khánh Hòa, Đồng Tâm - Mỹ Đức; sự cố môi trường Formosa và thiên tai, lũ lụt tại miền Trung và một số địa phương khu vực phía Bắc; đảm bảo an ninh trật tự phục vụ công tác phòng, chống dịch Covid-19...). Chú trọng công tác tập huấn, huấn luyện sử dụng các phương tiện đặc chủng, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ cho cán bộ trực tiếp quản lý, sử dụng của Công an các đơn vị, địa phương.

          Công tác trang bị đã thực hiện chuyển đổi hẳn từ trang cấp hiện vật sang hình thức trang bị, trang cấp hiện vật kết hợp với tiền tệ hàng hóa, chuyển từ thụ động trông chờ hiện vật từ nguồn bao cấp của Nhà nước sang hình thức tổ chức sản xuất hàng hóa trong lực lượng CAND kết hợp với mua sắm để trang bị trang cấp. Trang cấp các loại phương tiện thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ, vũ khí, công cụ hỗ trợ ngày càng tiên tiến, hiện đại, cập nhật tốc độ phát triển như vũ bão của khoa học kỹ thuật trong nước và thế giới. Chú trọng trang bị các phương tiện, thiết bị đảm bảo đồng bộ, hiệp đồng tác chiến và dùng chung được, nhất là trong điều kiện ngân sách Nhà nước cấp cho Bộ Công an còn hạn chế. Làm tốt nguyên tắc “tập trung – phân cấp”: (1) Tập trung thực hiện quyết định trang bị, thống nhất quản lý các loại tài sản thuộc nhiều nguồn về một đầu mối từ Bộ đến cơ sở; (2) Phân cấp quyền, phạm vi quản lý tài sản theo từng cấp tạo sự chủ động của Thủ trưởng Công an các cấp, trên cơ sở quy định, hướng dẫn chung toàn ngành.

          Bốn, đổi mới công tác mua sắm:

          Công tác mua sắm đã xuất phát từ nhu cầu thực tế, đảm bảo hiện đại, đồng bộ từ Bộ đến cơ sở và có tính dự báo. Phân cấp, phân quyền mua sắm các trang thiết bị chuyên dùng từ các nguồn kinh phí dự án, kinh phí địa phương hỗ trợ... cho Công an các đơn vị, địa phương. Tập trung ý kiến chuyên gia, phát huy trí tuệ tập thể trong triển khai kế hoạch mua sắm. Chủ động nghiên cứu mẫu mã, chủng loại, chỉ tiêu kỹ thuật của các loại phương tiện, thiết bị, vũ khí, quân trang trong và ngoài nước để tham mưu lãnh đạo các cấp kế hoạch mua sắm các hàng hóa có tính năng kỹ thuật, chất lượng phù hợp với thực tế công tác.

          Thực hiện đúng chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ và Bộ Công an về mua sắm tài sản theo phương thức tập trung. Thông qua triển khai phương thức mua sắm tập trung, đã lựa chọn được các nhà cung cấp tốt nhất, với chất lượng sản phẩm tối ưu, giá thành thống nhất và hợp lý, tương đồng về kỹ thuật, đáp ứng yêu cầu về dịch vụ bảo hành, bảo dưỡng, hạn chế các phát sinh kỹ thuật bất thường trong quá trình sử dụng tài sản.

          Năm, đổi mới đối tượng ưu tiên trang bị. Căn cứ vào Nghị quyết của Đảng, Đảng ủy Công an Trung ương, lãnh đạo Bộ Công an, công tác trang bị và kho vận tập trung khai thác nguồn lực, tổ chức đầu tư trang bị cho các lực lượng theo đúng chủ trương đề ra. Từ năm 2011 – 2016, tập trung đầu tư cho lực lượng An ninh, Tình báo, Cảnh sát cơ động, Công an cấp huyện; từ năm 2016 – 2020 ưu tiên đầu tư Cảnh sát Hình sự, Cảnh sát phòng chống ma tuý, phòng chống tội phạm sử dụng công nghiệp cao. Đặc biệt, trong 02 năm gần đây tập trung trang bị đáp ứng yêu cầu triển khai Đề án Công an chính quy đảm nhiệm chức danh Công an xã theo đúng tiến độ “bố trí lực lượng Công an xã chính quy đến đâu – cấp phát trang thiết bị đáp ứng yêu cầu công tác đến đó".

          Sáu, đổi mới công tác kho vận theo hướng nghiên cứu, ứng dụng khoa học, xây dựng quy trình công tác quản lý, nhập, xuất, bảo quản, bảo dưỡng tại các kho, từng bước triển khai chế độ cấp phát hàng hóa theo cơ chế “một cửa”. Tổ chức nâng cao năng lực dự phòng chiến đấu và dự trữ quốc gia tại kho Bộ vừa đảm bảo yêu cầu chiến lược, vừa linh động gắn liền với công tác xuất, nhập, điều chuyển giữa các vùng, miền. Đã chú trọng triển khai công tác kho, đảm bảo hàng trong kho được bảo quản, bảo dưỡng đúng quy định. Chủ động nhập, xuất, điều chuyển hàng hóa giữa các kho khu vực phục vụ công tác đảm bảo an ninh, trật tự thường xuyên, đột xuất cũng như bảo vệ các ngày lễ lớn của đất nước và phòng chống thiên tai, dịch bệnh. Năm 2020, tổng số hàng nhập đạt 6.483,25 tấn hàng và 698 chiếc ô tô các loại; tổng số hàng xuất đạt 6.701,06 tấn hàng và 743 chiếc xe ô tô các loại. Tổ chức triển khai thực hiện các kế hoạch vận chuyển hàng hóa đến các kho khu vực phục vụ cấp phát và dự trữ, dự phòng với tổng số 2019 chuyến xe 2.038.295 Km và 16.729 tấn hàng. Năng lực vận tải ngày càng nâng cao, trong đó, đã triển khai công tác vận tải theo hướng chủ động tổ chức vận chuyển, bàn giao hàng hóa tận nơi nhằm đảm bảo tiết kiệm và tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho Công an các đơn vị, địa phương.

          Để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ công tác quản lý trang bị và kho vận trong tình hình mới, ngày 01/11/2020, Bộ Công an đã ban hành Thông tư số 115/2020/TT-BCA quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Cục Trang bị và kho vận (HO3) (thay thế Quyết định số 4015/QĐ BCA ngày 06/8/2018 của Bộ trưởng Bộ Công an). Tổ chức bộ máy của Cục H03 được quy định tại Quyết định số 9198/QĐ-BCA, ngày 02/11/2020 của Bộ trưởng Bộ Công an, theo đó, HO3 do Cục trưởng phụ trách, có không quá 05 Phó Cục trưởng. Tổ chức bộ máy gồm 10 Phòng và 01 Trung tâm. Công tác quản lý trang bị và kho vận tiếp tục được quan tâm, chỉ đạo sát sao của Đảng ủy Công an Trung ương và lãnh đạo Bộ Công an. Lực lượng quản lý trang bị và kho vận được sắp xếp, bố trí theo hướng tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.

          Nhìn lại chặng đường 75 năm qua, có thể khẳng định, quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của lực lượng Quản lý trang bị và kho vận gắn liền với lịch sử phát triển của lực lượng CAND Việt Nam. Lực lượng Quản lý trang bị và kho vận luôn hoàn thành nhiệm vụ đảm bảo trang bị vũ khí, phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ, quân trang, quân nhu, đảm bảo công tác kho và vận tải đáp ứng yêu cầu thường xuyên và đột xuất phục vụ công tác, chiến đấu, xây dựng lực lượng của Công an các cấp, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội của lực lượng CAND trong suốt các thời kỳ cách mạng Việt Nam. Quản lý trang bị và kho vận là một lực lượng trong hệ thống tổ chức của lực lượng CAND, có tổ chức chặt chẽ từ cơ quan Bộ đến Công an các đơn vị, địa phương, có chức năng, nhiệm vụ cụ thể; trở thành một bộ phận quan trọng không thể thiếu trong tổ chức bộ máy và hoạt động của toàn lực lượng CAND. Mỗi bước trưởng thành của lực lượng Quản lý trang bị và kho vận đã góp phần xây dựng nên truyền thống vẻ vang của lực lượng CAND trong sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự an toàn xã hội.

          Phần thứ ba

          NHỮNG DANH HIỆU CAO QUÝ ĐƯỢC ĐẢNG, NHÀ NƯỚC VÀ BỘ CÔNG AN PHONG TẶNG CHO LỰC LƯỢNG QUẢN LÝ TRANG BỊ VÀ KHO VẬN CAND

          Lực lượng Quản lý trang bị và kho vận đã đạt được những phần thưởng cao quý do Đảng, Nhà nước, Đảng ủy CATW và lãnh đạo Bộ Công an trao tặng:

          - Huân chương Quân công: hạng Nhất (Cục Trang bị và kho vận năm 2021); hạng Nhì (Cục Kho vận năm 2013); hạng Ba (Tổng kho và Vận tải năm 2008); hạng Ba (Cục Quản lý trang bị kỹ thuật và trang cấp năm 2016). Huân chương Chiến công hạng Nhất (Đoàn Vận tải năm 1985);

          - Huân chương Chiến công hạng Hai (Cục Cung cấp năm 1985).

          - Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng Ba: Cục Quản lý trang bị kỹ thuật và trang cấp năm 2015.

          - Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ: Cục Kho vận các năm 2003, 2004, 2007.

          - Cờ Thi đua của Chính phủ: Cục Quản lý trang bị kỹ thuật và trang cấp các năm 2005, 2011, 2013.

          - Cờ Thi đua của Bộ Công an: Cục Trang bị và kho vận các năm 2018, 2019, 2020.

          - Hàng chục Cờ thi đua của Bộ Công an và hàng trăm Bằng khen của các Bộ, Ban, Ngành trong và ngoài lực lượng CAND.

BBT