Đèn đỏ giao thông

Tra cứu phương tiện vi phạm giao thông qua hình ảnh

Biển kiểm soát

Loại phương tiện

Mã bảo mật

Quảng cáo phải Quảng cáo phải Danh ba dien thoai Chung tay vì an toàn giao thông
Trang chủ / Nghiên cứu - Trao đổi
Ưu tiên ứng dụng khoa học công nghệ hiện đại trong Luật Bảo đảm TTATGT đường bộ
Ngày đăng: 13/11/2020
Dự thảo Luật Bảo đảm trật tự an toàn giao thông đường bộ đã ưu tiên, tập trung lấy công nghệ là giải pháp trong công tác bảo đảm TTATGT thông qua hàng loạt quy định về Trung tâm chỉ huy, hệ thống cơ sở dữ liệu dùng chung, ứng dụng công nghệ trong phát hiện, xử lý vi phạm...

Dự thảo Luật bảo đảm trật tự, an toàn giao thông đường bộ đã được Chính phủ trình Quốc hội cho ý kiến tại Kỳ họp thứ 10 đang diễn ra. Đọc dự thảo Luật, nhận thấy dung lượng nội dung quy định về ứng dụng khoa học công nghệ vào công tác bảo đảm trật tự, an toàn giao thông đường bộ là rất lớn, cơ quan soạn thảo đang hướng đến việc ứng dụng khoa học công nghệ thay cho con người để phục vụ con người tốt hơn, đây là một bước tiến mới, mạnh mẽ đi trước đón đầu của dự thảo Luật này, thể hiện sự đổi mới tư duy trong công tác xây dựng pháp luật, phù hợp với các chính sách của Đảng và Nhà nước về ứng dụng khoa học công nghệ vào quản lý Nhà nước, tăng cường tính công khai, minh bạch, cải cách thủ tục hành chính, đặt nền tảng cho ứng dụng công nghệ 4.0 trong công tác này; tạo điều kiện thuận lợi cho Nhân dân, thực hiện tinh giản biên chế, tổ chức bộ máy và phù hợp với xu thế phát triển khoa học công nghệ của thế giới (cuộc cách mạng công nghiệp 4.0). Nội dung ứng dụng khoa học công nghệ thể hiện ở 03 nhóm vấn đề chính sau đây:

Nhóm các vấn đề quy định về nền tảng ứng dụng khoa học công nghệ phục vụ công tác quản lý về trật tự, an toàn giao thông đường bộ:

Dự thảo Luật dành riêng 02 điều. Trong đó Điều 7 Quy định về Trung tâm thông tin chỉ huy, được tích hợp các hệ thống giám sát, xử lý vi phạm trật tự, an toàn giao thông đường bộ; hệ thống điều khiển đèn tín hiệu giao thông; hệ thống thông tin liên lạc; chỉ huy điều hành giao thông; hệ thống cơ sở dữ liệu dùng chung và chuyên ngành; đồng thời kết nối với các hệ thống camera điều hành giao thông. Quy định này là tiền đề, cơ sở pháp lý triển khai, hiện đại hóa các hoạt động quản lý an toàn giao thông ở nước ta hiện nay, từng bước các hoạt động quản lý an toàn giao thông được thực hiện thông qua một trung tâm chỉ huy tập trung thống nhất, để giám sát hoạt động giao thông, kịp thời phát hiện, giải quyết các tình huống giao thông, ùn tắc giao thông, tai nạn giao thông, xử lý các vi phạm pháp luật về giao thông đường bộ.v.v. Tại Điều 8 quy định về cơ sở dữ liệu dùng chung trong công tác bảo đảm trật tự, an toàn giao thông đường bộ, gồm: Cơ sở dữ liệu về phương tiện giao thông; cơ sở dữ liệu về người điều khiển phương tiện giao thông; cơ sở dữ liệu về bảo hiểm của chủ xe cơ giới; cơ sở dữ liệu về tổ chức giao thông; cơ sở dữ liệu về vi phạm hành chính; cơ sở dữ liệu về tai nạn giao thông và thông tin dữ liệu của xe ô tô kinh doanh vận tải, hệ thống quản lý điều hành giao thông khác. Lần đầu tiên, pháp luật quy định cụ thể một bộ cơ sở dữ liệu dùng chung thống nhất, hoàn chỉnh, quản lý có hệ thống, thực hiện liên thông giữa các bộ, ngành, cơ quan liên quan, phục vụ chung công tác quản lý nhà nước về trật tự, an toàn giao thông đường bộ, công tác bảo đảm an ninh, trật tự và các công tác quản lý Nhà nước khác có liên quan, phù hợp với quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước, quy luật phát triển của giao thông đường bộ và bảo đảm an toàn giao thông trong tình hình hiện nay. Từ đó sẽ khắc phục được tình trạng ứng dụng khoa học công nghệ, cơ sở dữ liệu còn đơn lẻ, thiếu thống nhất trong thời gian qua.

Cùng với đó, tại các Chương, Điều quy định về từng lĩnh vực quản lý Nhà nước, đều có các quy định về ứng dụng khoa học công nghệ hiện đại để nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý. tại Điều 44, Điều 45 về đào tạo, sát hạch lái xe, quy định tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý. Chương IV (Tổ chức an toàn, chỉ huy, điều khiển giao thông và giải quyết ùn tắc giao thông đường bộ - tại các Điều 48, Điều 49, Điều 53): Ưu tiên ứng dụng hệ thống giao thông thông minh trong điều hành, hướng dẫn giao thông; vận hành trung tâm chỉ huy giao thông hợp lý, khoa học; chỉ huy điều khiển giao thông thông qua vận hành đèn và hệ thống đèn tín hiệu giao thông, để phòng ngừa ùn tắc giao thông, bảo đảm giao thông thông suốt, an toàn, giải quyết tốt, kịp thời ùn tắc giao thông khi xảy ra. Chương VI (Thực thi pháp luật trong phát hiện, xử lý vi phạm về trật tự, an toàn giao thông đường bộ - tại Điều 62), quy định sử dụng thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ để phát hiện vi phạm là một hình thức phát hiện vi phạm về trật tự, an toàn giao thông đường bộ, để ghi lại hình ảnh hành vi vi phạm của phương tiện giao thông, có đầy đủ tài liệu chứng cứ chứng minh vi phạm, phù hợp với quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính: “Người có thẩm quyền xử phạt có trách nhiệm chứng minh vi phạm hành chính”, khắc phục tình trạng đôi co giữa người thực thi công vụ và người vi phạm trong xử lý vi phạm giao thông thời gian qua về các chứng cứ chứng minh vi phạm.

Nhóm vấn đề quy định về quản lý xe ô tô không người lái, phương tiện giao thông đa tính năng:

Tại Chương III (Phương tiện và người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ - tại Điều 37, Điều 40), đã giao Chính phủ quy định lộ trình sử dụng biển số xe điện tử, quy định về điều kiện tham gia giao thông của xe ô tô không người lái, phương tiện giao thông đa tính năng phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội và công nghệ, đây là một quy định hết sức tiến bộ, đi trước đón đầu, đặt nền móng cho quản lý phương tiện giao thông trong tương lai và có sự tiếp thu kinh nghiệm quốc tế trong công tác quản lý phương tiện giao thông.

Nhóm vấn đề quy định về chính sách của Nhà nước về ứng dụng khoa công nghệ trong công tác bảo đảm trật tự, an toàn giao thông đường bộ:

Tại Chương I (Điều 5): Nhà nước có chính sách trang bị phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ hiện đại để bảo đảm trật tự, an toàn giao thông; khuyến khích các tổ chức, cá nhân nghiên cứu, chuyển giao ứng dụng khoa học công nghệ vào công tác bảo đảm trật tự, an toàn giao thông đường bộ, là tiền đề, cơ sở pháp lý để đầu tư, khuyến khích huy động mọi nguồn lực khoa học công nghệ của xã hội vào trong công tác này.

Nhìn tổng thể dự thảo Luật bảo đảm trật tự, an toàn giao thông đường bộ, với những quy định hết sức tiến bộ và yêu cầu khách quan về ứng dụng khoa học công nghệ hiện đại trong công tác bảo đảm trật tự, an toàn giao thông đường bộ, cùng với sự quyết tâm của cả hệ thống chính trị, kỳ vọng sau khi Luật được ban hành sẽ tạo được bước tiến mới, mạnh mẽ về an toàn giao thông, quản lý hoạt động giao thông gắn với quản lý an ninh, trật tự trên các tuyến đường, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội đất nước, với mục tiêu của Đảng và Nhà nước là đến năm 2030, Nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, đến năm 2045 là trở thành nước phát triển.

Nguyễn Văn Hiệp